Saturday, October 24, 2009

Bệnh tay chân miệng

Bệnh Tay - Chân - Miệng (HFMD) là một bệnh thường gặp ở trẻ em. Bệnh thường được đặc trưng bởi sốt, đau họng và nổi ban có bọng nước. Triệu chứng đầu tiên thường là sốt nhẹ, biếng ăn, mệt mỏi và đau họng. Một đến hai ngày sau khi xuất hiện sốt trẻ bắt đầu đau miệng. Khám họng trẻ có thể phát hiện các chấm nhỏ sau đó biến thành các bọng nước và thường tiến triển đến loét. Các tổn thương này có thể thấy ở lưỡi, nướu và bên trong má.Ban da xuất hiện trong vòng 1 đến 2 ngày với các tổn thương phẳng trên da hoặc có thể gồ lên, máu đỏ và một số hình thành bọng nước. Ban này không ngứa và thường khu trú ở lòng bàn tay hoặc lòng bàn chân. Như vậy ban điển hình thường xuất hiện ở các vị trí tay, chân và miệng nên bệnh có tên Bệnh Tay – Chân - Miệng. Tuy nhiên ban có thể xuất hiện ở mông. Một số trường hợp, ban chỉ xuất hiện ở miệng mà không thấy ở các vị trí khác.

Nguyên nhân gây bệnh

Bệnh Tay – Chân - Miệng do một nhóm virus thuộc nhóm virus ruột gây nên. Tác nhân thường gặp nhất là coxsackievirus A16, đôi khi do enterovirus 71 và các virus ruột khác. Nhóm virus ruột bao gồm các phân nhóm virus bại liệt, coxsackievirus, echovirus và một số enterovirus khác không xếp vào phân nhóm nào.

Dịch tễ học

Đây là một bệnh dễ lây lan. Đường lây truyền thường từ người sang người do tiếp xúc với các dịch tiết mũi họng, nước bọt, chất dịch từ các bọng nước hoặc phân của người bệnh. Giai đoạn lây lan mạnh nhất là tuần đầu tiên bị bệnh. Bệnh Tay – Chân - Miệng không phải là bệnh lây từ động vật sang người.

Thời kỳ ủ bệnh thường từ 3 đến 7 ngày. Sốt thường là triệu chứng đầu tiên của bệnh. Đầu tiên virus thường cư trú ở niêm mạc má hay niêm mạc hồi tràng và sau 24 giờ, virus lam đến các hạch bạch huyết vùng.Nhiễm virut huyết thường xảy ra nhanh chóng sau đó và virus di chuyển đến niêm mạc miệng và da. Vào ngày thứ 7 sau khi nhiễm bệnh,kháng thể trung hòa tăng cao và virus bị thải loại.

Bệnh Tay – Chân - Miệng xảy ra chủ yếu ở trẻ em dưới 10 tuổi tuy nhiên cũng có thể gặp ở cả người trưởng thành. Mọi người đều có thể nhiễm virus nhưng không phải tất cả những người nhiễm virus đều biểu hiện bệnh. Trẻ nhũ nhi, trẻ em và thiếu niên là những đối tượng dẽ bị nhiễm bệnh và biểu hiện bệnh nhất vì chúng chưa có kháng thể chống lại bệnh này. Nhiễm bệnh có thể tạo nên kháng thể đặc hiệu chống virus gây bệnh tuy nhiên bệnh vẫn có thể tái diễn do một chủng virus khác gây nên.

Bởi vì mức độ lưu hành của các virus ruột, bao gồm cả các tác nhân gây Bệnh Tay – Chân - Miệng, nên phụ nữ có thai thường hay nhiễm bệnh. Nhiễm virus ruột trong thai kỳ thường gây nên bệnh nhẹ nhàng hoặc không triệu chứng. Không có dữ kiện nào chứng tỏ nhiễm virus trong quá trình mang thai gây nên các hậu quả xấu lên thai như sẩy thai, thai chết lưu hay dị tật bẩm sinh. Tuy nhiên nếu thai phụ nhiễm bệnh trong một thời gian ngắn trước khi sinh thì có thể truyền virus cho trẻ sơ sinh. Đa số những trẻ này chỉ biểu hiện bệnh nhẹ nhàng nhưng một số có thể biểu hiện bệnh cực kỳ trầm trọng đưa đến rối loạn chức năng đa cơ quan và tử vong. Nếu bệnh xuất hiện trong hai tuần đầu sau sinh thì nguy cơ xảy ra bệnh nặng cao hơn.

Chẩn đoán

Chẩn đoán bệnh thường dựa trên biểu hiện lâm sàng với vị trí đặc trưng của ban (tay, chân, miệng và mông). Phân lập virus từ các bệnh phẩm phết họng hay dịch của các bọng nước thường sau 2 đến 4 tuần mới có kết quả nên nó không hữu ích cho chẩn đoán trên từng bệnh nhân cụ thể mà chỉ có ý nghĩa chẩn đoán hồi cứu và ý nghĩa dịch tễ học. Các thầy thuốc lâm sàng thường không yêu cầu xét nghiệm này. Và không phải tất cả các phòng xét nghiệm vi sinh vật đều có thể thực hiện kỹ thuật nuôi cấy virus gây bệnh được.

Chẩn đoán phân biệt với nhiễm herpes miệng. Dữ kiện lâm sàng, tuổi và yếu tố dịch tễ thường giúp ích.

Điều trị

Trong trường hợp nghi ngờ có biến chứng thần kinh,có thể dùng IMUNOGLOBULIN.Tuy nhiên hiệu quả thực sự còn chưa biết rõ.Nếu bệnh nhân giật mình hay run tay nhiều có thể dùng PHENOBARBITAL uống hay truyền tĩnh mạch.

Tiên lượng

Bệnh Tay – Chân - Miệng do coxsackievirus A16 thường là một bệnh nhẹ và tự lành sau 7 đến 10 ngày mà không cần điều trị. Biến chứng thường ít gặp.

Trong một số trường hợp hiếm gặp, bệnh nhân có thể biểu hiện viêm màng não virus (hay viêm màng não vô khuẩn) với các biểu hiện như sốt, nhức đầu, cứng cổ, đau lưng và cần phải nhập viện.

Bệnh Tay – Chân - Miệng gây nên do enterovirrus 71 cũng có thể gây nên viêm màng não virus và hiếm hơn là các bệnh trầm trọng như viêm não hay liệt kiểu bại liệt (poliomyelitis-like paralysis). Viêm não do enterovirus 71 có thể gây tử vong. Trong các vụ dịch xảy ra ở Malaysia năm 1997 và ở Đài Loan năm 1998 một số trường hợp viêm não do loại virus này đã tử vong.

Các biến chứng khác có thể xảy ra là viêm cơ tim cấp, viêm phổi.

Phòng bệnh

Hiện nay chưa có phương pháp phòng bệnh đặc hiệu cho Bệnh Tay – Chân - Miệng cũng như các bệnh khác do enterovirrus không phải bại liệt khác tuy nhiên biện pháp vệ sinh chặt chẽ có thể hạ thấp nguy cơ nhiễm bệnh. Các biện pháp có tác dụng là thường xuyên rửa tay đặc biệt là sau mỗi lần thay tã.

Những nơi bị nhiễm bệnh có thể được làm sạch trước tiên bằng nước xà phòng sau đó khử trùng bằng dung dịch chứa chlor. Tránh các tiếp xúc thân mật với người bệnh như hôn, vuốt ve, dùng chung dụng cụ…

Bệnh Tay – Chân - Miệng trong nhà trẻ

Các vụ bùng phát dịch trong nhà trẻ thường xảy ra vào mùa hè và mùa thu và thường đồng thời với hiện tượng tăng các trường hợp nhiễm bệnh trong cộng đồng. Không có biện pháp cụ thể nào đảm bảo chắc chắn giảm thiểu các trường hợp mới mắc nếu dịch bùng phát trong nhà trẻ, trường học, tuy nhiên những biện pháp sau đây thường được khuyến cáo:

  • Rửa tay sạch sẽ, nhất là sau khi đi vệ sinh, thay tã hoặc don dẹp các vật dụng có phân trẻ.
  • Che miệng khi ho và hắt hơi. Rất khó thực hiện ở trẻ em.
  • Vệ sinh đồ chơi.
  • Cho nghỉ tại nhà những trẻ biểu hiện sốt và/hoặc có biểu hiện loét miệng hoặc trẻ nhễu nước bọt nhiều.

Nên biết về viêm gan C

Có không ít người đã ngộ nhận viêm gan C là “đàn anh” của viêm gan B và phải mắc viêm gan B thì mới có nguy cơ bị viêm gan C. Chính vì hiểu trật lất như vậy nên đã thiếu những ứng xử đúng đắn với siêu vi này, dẫn đến nguy hiểm cho bản thân.

Một bệnh nhân khá lớn tuổi đến gặp tôi tại phòng khám viêm gan của bệnh viện đại học Y dược trong một tâm trạng rất lo lắng vì mới nhận được kết quả xét nghiệm Anti-HCV dương tính và men gan tăng. Ông kể cách đây 20 năm, ông bị xuất huyết tiêu hoá do loét dạ dày và đã được truyền hai đơn vị máu. Ông thắc mắc tại sao từ đó đến nay, vẫn cảm thấy khoẻ mạnh mà nay lại đột nhiên kết luận bị viêm gan siêu vi C mạn tính.

Viêm gan sao không vàng da?

Thật ra, mãi đến năm 1989, người ta mới phát hiện được những trường hợp bị viêm gan xảy ra sau khi truyền máu là do một loại siêu vi khuẩn được đặt tên là siêu vi viêm gan C gây ra (sau đây gọi tắt là viêm gan C). Chính vì vậy những trường hợp truyền máu trước năm 1990 như bệnh nhân nói trên vẫn có nhiều nguy cơ bị nhiễm viêm gan C. Đây là một loại siêu vi khuẩn có cấu tạo và khả năng gây bệnh hoàn toàn khác với siêu vi A và B. Do đó, không phải bị nhiễm siêu vi A hoặc B lâu ngày thì sẽ tiến triển thành siêu vi C. Người ta ước tính có khoảng hơn 200 triệu người đã bị nhiễm viêm gan C trên toàn thế giới.

Trước kia, viêm gan C chủ yếu lây qua đường truyền máu hoặc khi tiếp xúc trực tiếp với máu của bệnh nhân mà da niêm của chúng ta bị trầy xước hoặc bị đâm thủng. Hiện nay, nhờ các xét nghiệm tầm soát và sàng lọc ở những người cho máu nên tỷ lệ lây nhiễm sau truyền máu đã giảm đáng kể. Đường lây bệnh quan trọng hiện giờ là do dùng chung kim và ống tiêm. Hơn 60% những người chích xì ke đã bị nhiễm viêm gan C. Ngoài ra, viêm gan C còn lây qua đường tình dục, từ mẹ truyền sang con trong lúc sinh nhưng mức độ lây nhiễm ít hơn viêm gan B gấp 10 lần. Ngoài ra, bệnh còn bị lây nhiễm do châm cứu, xâm mình, xỏ lỗ tai, dùng chung các vật dụng cá nhân như bàn chải đánh răng, dao cạo râu... của người bệnh. Vấn đề lây nhiễm trong bệnh viện cũng đáng được quan tâm (do phẫu thuật, nội soi, chữa răng, nạo thai... mà dụng cụ không được khử trùng đúng cách). Cũng nên lưu ý, có khoảng 20 - 40% trường hợp bị viêm gan C nhưng không biết nguồn lây rõ ràng.

Viêm gan C thường ít gây ra triệu chứng viêm gan cấp và điển hình cho nên đa số bệnh nhân không có triệu chứng rõ ràng. Nếu có, cũng là những triệu chứng không đặc hiệu như mệt mỏi, chán ăn, rối loạn tiêu hoá, đau tức dưới sườn bên phải. Rất ít khi có vàng da. Việc phát hiện bệnh thường là tình cờ khi đi xét nghiệm máu hoặc kiểm tra sức khoẻ. Nhiều lúc, bệnh cứ tiến triển âm thầm đến khi phát hiện thì đã bị xơ gan hoặc ung thư gan. Do vậy, việc khám sức khoẻ và xét nghiệm máu định kỳ là rất cần thiết để phát hiện bệnh sớm.

Viêm gan C có điều trị hết?

Một trong những đặc điểm quan trọng của viêm gan C là đa số bệnh nhân sẽ không có khả năng loại trừ siêu vi ra khỏi cơ thể và họ sẽ trở thành người nhiễm viêm gan C mạn tính. Trong số đó, 25% bệnh nhân có men gan hoàn toàn bình thường trong nhiều năm và họ được gọi là “người mang siêu vi C mạn tính không triệu chứng”.

Số bệnh nhân còn lại có viêm gan mạn tính tiến triển chậm, men gan có lúc tăng, lúc giảm về bình thường. Do vậy, bệnh nhân thường chủ quan không chịu theo dõi bệnh thường xuyên. Sau 10 - 20 năm, ít nhất có 20% số bệnh nhân viêm gan C mạn tính tiến triển sang xơ gan rồi thành ung thư gan. Xơ gan có thể xảy ra sớm hơn nếu như bệnh nhân uống rượu nhiều hoặc bị nhiễm thêm các loại siêu vi khác như siêu vi B, D, HIV...

Một điều may mắn là bệnh viêm gan C có thể chữa thành công trên 50% trường hợp nếu được điều trị đúng cách. Phác đồ điều trị tối ưu hiện nay là sử dụng kết hợp Peg-interferon (Pegasys hoặc Peg-Intron) với ribavirine. Peg-interferon là loại thuốc dùng tiêm dưới da, mỗi tuần một lần. Còn ribavirine là loại thuốc uống mỗi ngày. Thời gian điều trị phải kéo dài từ 6 đến 12 tháng tuỳ từng trường hợp. Trước kia, người ta dùng loại thuốc interferon thông thường, tiêm ba lần mỗi tuần, có chi phí thấp hơn nhưng chỉ đạt được hiệu quả dưới 30%.

Quá trình điều trị có thể sẽ đem lại một số tác dụng phụ. Interferon có thể gây các triệu chứng giống cảm cúm như mệt mỏi, sốt, ớn lạnh, đau xương khớp, đau mình mẩy. Các triệu chứng này chỉ xảy ra trong vài tuần đầu điều trị. Ngoài ra, bệnh nhân còn bị chán ăn, rụng tóc, trầm cảm, giảm số lượng các tế bào máu... Ribavirine gây ho, ngứa, mất ngủ, thiếu máu, có thể ảnh hưởng đến thai cho nên tuyệt đối phải áp dụng các phương pháp ngừa thai trong suốt thời gian điều trị. Tuy nhiên, các tác dụng phụ này có thể được khắc phục bằng những biện pháp điều trị bổ sung và nâng đỡ thể trạng. Tuỳ từng loại triệu chứng mà các bác sĩ sẽ có những cách điều trị thích hợp.

Người bệnh cũng cần thực hiện một chế độ ăn uống điều độ và cân đối. Không nên kiêng khem quá mức sẽ gây suy dinh dưỡng. Rượu bia cần phải hạn chế. Nếu đã bị xơ gan thì phải bỏ rượu hoàn toàn. Các sinh hoạt thông thường hàng ngày vẫn nên tiếp tục. Cần tập thể dục, thể thao vừa sức để tăng cường sức khoẻ.

Có thể phòng ngừa viêm gan C?

Rất tiếc là bệnh viêm gan C hiện không có thuốc chủng ngừa, do vậy các biện pháp phòng ngừa chủ yếu là ngăn chặn sự lây lan của siêu vi theo đường máu hoặc tiếp xúc với da niêm như không chích xì ke, không dùng chung kim và ống tiêm, không dùng chung các vật dụng cá nhân dễ gây chảy máu như bàn chải đánh răng, dao cạo râu, kìm cắt móng tay... Người bị viêm gan C tuyệt đối không được hiến máu. Viêm gan C không lây lan qua đường ăn uống và các tiếp xúc thông thường nên không cần thiết phải ăn uống riêng hoặc cách ly người bệnh.

Điều chưa biết về viêm gan virut B

Viêm gan virut B là một trong những bệnh nhiễm virut rất hay gặp trong số các bệnh truyền nhiễm. Ở nước ta có khoảng 20% dân số bị nhiễm virut viêm gan B và 80% những người bị ung thư gan là do viêm gan virut B. Một người khi làm xét nghiệm máu có HbsAg (kháng nguyên bề mặt) dương tính sẽ được chẩn đoán là mắc viêm gan virut B mãn tính.

Đây là một bệnh diễn tiến thầm lặng, đa số bệnh nhân không có triệu chứng lâm sàng rõ rệt. Nếu xét nghiệm men gan cho kết quả bình thường và siêu âm không thấy dấu hiệu xơ gan thì được coi là người lành mang mầm bệnh. Những người này chưa cần điều trị bằng thuốc trong giai đoạn này, mà nên theo dõi men gan, siêu âm gan định kỳ mỗi 6 tháng. Bệnh lây qua 3 đường: lây qua quan hệ tình dục không an toàn (không sử dụng bao cao su); qua đường máu (tiêm chích, truyền máu...) không an toàn; và qua đường mẹ con. Chưa có bằng chứng viêm gan virut B lây qua sữa mẹ, nên khi mẹ bị viêm gan virut B vẫn có thể cho con bú. Khi mang thai, người mẹ bị viêm gan virut B cần báo cho bác sĩ biết về tình trạng bệnh tật của mình để con bạn được tiêm phòng vaccin và tiêm immu noglobulin để phòng lây viêm gan virut B từ mẹ sang.

Tỷ lệ bệnh nhân viêm gan virut B khi thử máu có men gan cao chiếm khoảng 10-15% nhưng người lành mang mầm bệnh. Do vậy, đừng quá bi quan hay thất vọng khi nhận kết quả xét nghiệm dương tính. Nếu bạn nằm trong số người có kết quả xét nghiệm men gan cao, bạn cần điều chỉnh lại chế độ sinh hoạt ăn uống của bạn. Chẳng hạn, không dùng bia rượu, hoặc kiểm tra xem có dùng loại thuốc nào ảnh hưởng đến gan không? Sức khỏe toàn diện có vấn đề gì không (suy nhược cơ thể?). Lúc này cần nhất là điều chỉnh lại chế độ sinh hoạt cho điều độ, không nên quá bi quan, hốt hoảng và sử dụng ngay các thuốc nhằm giảm men gan vì sẽ làm bác sĩ không theo dõi được nguyên nhân tại sao men gan của bạn cao, do viêm gan virut B tiến triển hay do các nguyên nhân khác? Trong trường hợp này, bạn nên thử lại men gan sau 3-6 tháng, nếu men gan giảm, bạn đã tự điều trị bệnh rồi và sẽ trở lại chế độ theo dõi như người lành mang mầm bệnh. Nếu men gan tiếp tục cao, bạn nên gặp bác sĩ để được khám và điều trị viêm gan virut B.

Hiện nay đã có thuốc điều trị viêm gan virut B, tuy nhiên không phải thuốc lúc nào cũng thành công trong việc điều trị dứt điểm bệnh. Trong điều trị viêm gan virut B thời gian sử dụng thuốc thường kéo dài, các thuốc dạng uống (lamivudin, adefovir...) thường phải sử dụng trên 1 năm và phải được bác sĩ theo dõi. Thuốc phải uống đều đặn, theo đúng chỉ dẫn của bác sĩ, không được tự ý dừng thuốc khi chưa có ý kiến của bác sĩ. Thời gian gần đây, dạng thuốc tiêm peg intefern đã được FDA (Cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Hoa Kỳ) chấp thuận cho sử dụng để điều trị viêm gan virut B. Thuốc tiêm có thể sử dụng trong thời gian ngắn hơn (từ 6-12 tháng) và hiệu quả cao hơn so với thuốc uống, tuy giá còn quá cao so với thu nhập của người Việt Nam và có nhiều tác dụng phụ hơn so với thuốc uống.

Tóm lại viêm gan virut B không phải lúc nào cũng gây ung thư gan và xơ gan. Khi có kết quả xét nghiệm HbsAg dương tính bạn cần theo dõi định kỳ 6 tháng 1 lần, chỉ dùng thuốc khi có chỉ định của bác sĩ. Khi dùng thuốc phải tuân thủ đúng theo hướng dẫn của bác sĩ về liều dùng và thời gian dùng thuốc. Nếu là người lành mang mầm bệnh, thì chỉ cần có chế độ tập luyện sinh hoạt ăn uống đều đặn đầy đủ, kiêng rượu bia và khuyên những người thân sống cùng đi tiêm vaccin phòng bệnh viêm gan virut B.

Bệnh Viêm gan A

Viêm gan A là gì?

Điều này rất có ý nghĩa vì gan thực hiện nhiều nhiệm vụ quan trọng - khử độc, hỗ trợ tiêu hóa và sản sinh ra nhiều chất dinh dưỡng tối quan trọng.

Hầu hết mọi người nhiễm HAV từ thực phẩm và nước nhiễm bẩn hoặc tiếp xúc gần với người nhiễm HAV.

Bạn đặc biệt có nguy cơ nhiễm nếu bạn là khách du lịch quốc tế - nhất là đến các nước đang phát triển hoặc nếu bạn là người đồng tính luyến ái nam.

May mắn thay, trong hầu hết các trường hợp nhiễm HAV, gan thường khỏi hoàn toàn mà không gây vấn đề nghiêm trọng nào. Những trường hợp nhẹ không cần điều trị, và hầu hết những người nhiễm đều bình phục hoàn toàn mà không bị tổn thương gan mạn tính. Không như viêm gan B và C, viêm gan A không tiến triển thành viêm gan mạn hay xơ gan. Hơn nữa, hiện đã có vắc cin cho những người có nguy cơ nhất.

Dấu hiệu và triệu chứng

Một số người có thể bị viêm gan A mà không hề có triệu chứng. Trẻ nhỏ thường bị nhẹ, trong khi triệu chứng ở trẻ lớn và người lớn thường nặng hơn. Nhìn chung bạn sẽ có vi rút từ 2 đến 3 tuần trước khi xuất hiện triệu chứng. Các triệu chứng thường xuất hiện, đột ngột và bạn dễ nhầm là nhiễm cúm đường ruột. Các triệu chứng hay gặp bao gồm:

- Mệt mỏi

- Buồn nôn và nôn

- Đau bụng hoặc cảm giác khó chịu bụng, đặc biệt đau vùng gan ở dưới sườn phải.

- Chán ăn

- Sốt nhẹ

- Vàng da và mắt. Không phải tất cả các bệnh nhân viêm gan A đều bị vàng da. Triệu chứng này sảy ra khi gan không thể loại bỏ được bilirubin trong máu. Bilirubin sẽ tích luỹ và lắng đọng ở da gây vàng da.

- Đau cơ

- Ngứa

Bạn sẽ thấy khỏe hơn sau khi hết các triệu chứng, và gan bạn có thể khỏi hoàn toàn trong vòng 1-2 tháng. Khoảng 15% bệnh nhân viêm gan A bị tái phát sau 6-9 tháng.

Nguyên nhân

Gan nằm ở vùng bụng bên phải, ngay dưới xương sườn. gan thực hiện hơn 500 chức năng sống. Bao gồm xử lý hầu hết các chất dinh dưỡng từ ruột, đào thải thuốc, rượu và các chất có hại khác ra khỏi máu và tạo mật - dịch màu xanh lục chứa trong túi mật để giúp tiêu hóa mỡ. Gan cũng sản sinh cholesterol, các yếu tố đông máu và một số protein khác.

Vì tính chất phức tạp và sự tiếp xúc của gan với rất nhiều chất độc, nên gan rất dễ bị bệnh. Nhưng gan có khả năng tái sinh đáng kinh ngạc - nó có thể tự lành bệnh bằng cách thay thế hoặc sửa chữa các tế bào tổn thương. Nó cũng có thể tạo ra tế bào mới đảm nhiệm chức năng của các tế bào tổn hại vĩnh viễn hoặc cho đến khi tổn thương được khắc phục, gan vẫn dễ bị một số bệnh, bao gồm viêm gan virus.

Viêm gan A là một trong 6 chủng gây viêm gan virus hiện đã được xác định - các loại khác là B, C, D, E và G. Các chủng này khác nhau về đường lây truyền và mức độ nặng của bệnh.

HAV thường lây truyền theo đường "phân-miệng". Điều này có nghĩa là một người nhiễm virus đã bốc thức ăn cho bạn mà không rửa tay sau khi đi vệ sinh. Bạn cũng có thể nhiễm virus do uống nước nhiễm bẩn, ăn sống các loại động vật có vỏ (sò, cua, tôm...) từ nguồn nước bị nhiễm nước thải, hoặc tiếp xúc gần với người bị nhiễm bệnh - cho dù người đó không có triệu chứng. Trên thực tế, bệnh lây lan mạnh nhất trước khi các triệu chứng xuất hiện.

Sàng lọc và chẩn đoán

Bạn nên đi khám nếu có triệu chứng của viêm gan A hoặc nghi ngờ có tiếp xúc với virus. Xét nghiệm có thể chẩn đoán chính xác bạn có bị nhiễm virus hay không.

Trong một số trường hợp, bác sĩ sẽ kiểm tra lượng bilirubin trong máu. Bình thường thì chất cặn này hồng cầu chết sẽ được chuyển hóa ở gan và đào thải qua nước tiểu. Nhưng tình trạng gan viêm sẽ cản trở khả năng chuyển hóa bilirubin, dẫn đến nồng độ bilirubin tăng cao trong máu. Bác sĩ cũng sẽ kiểm tra nồng độ các men gan tăng cao trong máu như aminotranferases - được giải phóng khi gan bị tổn thương.

Mặc dù cả hai xét nghiệm này đều gợi ý sự hiện diện của viêm gan A, bạn cũng cần làm miễn dịch phóng xạ để xác định chính xác tuýp viêm gan bạn nhiễm. Xét nghiệm này xác định các kháng thể mà hệ thống miễn dịch của bạn tạo ra để đáp ứng với kháng nguyên - là những protein đặc trưng của virus. Kháng thể này có thể không xuất hiện trong nhiều tuần, thậm chí nhiều tháng sau khi bạn bị viêm gan, bởi vậy xét nghiệm quá sớm có thể cho kết quả âm tính giả.

Hơn nữa, các kháng thể này vẫn tồn tại trong máu ngay cả khi bạn đã hồi phục. Vì vậy, sự hiện diện của một số kháng thể này không nhất thiết chỉ ra có nhiễm trùng hoạt động.

Yếu tố nguy cơ

Khoảng 1/3 dân số Mỹ có kháng thể kháng HAV, điều này có nghĩa là họ đã có lúc tiếp xúc với virus. Bạn có nguy cơ cao bị nhiễm nếu bạn:

- Đi du lịch hoặc công tác ở vùng có tỷ lệ viêm gan A cao. bao gồm nhiều nước ở châu Phi, châu Á, Ấn Độ và Nam Mỹ. Bạn vẫn có nguy cơ cho dù bạn nghỉ tại các khách sạn sang trọng và bạn rất cẩn thận khi ăn uống.

- Sống trong cộng đồng dân da đỏ, thổ dân Alaska hoặc các cộng đồng khác nơi thiếu các dịch vụ công cộng thường dẫn tới những vụ dịch viêm gan A.

- Có quan hệ tình dục đồng giới nam hoặc lưỡng giới.

- Làm việc trong cơ sở nghiên cứu có tiếp xúc với virus.

- Mắc bệnh máu khó đông hoặc dùng các yếu tố đông máu để điều trị bệnh khác. Đôi khi viêm gan A có thể lây truyền qua truyền máu.

Nhìn chung, người chế biến thức ăn, nhân viên y tế và trẻ em đi nhà trẻ không bị tăng nguy cơ nhiễm HVA. Mặc dù dịch viêm gan A đôi khi sảy ra ở các nhà trẻ, song có thể phòng ngừa được nếu nhân viên chăm sóc tuân thủ việc vệ sinh cá nhân tốt.

Biến chứng

Trong hầu hết các trường hợp viêm gan A, gan hồi phục hoàn toàn trong vòng 1-2 tháng mà không có tổn thương kéo dài. Hơn nữa, vi rút không tồn lưu trong cơ thể một khi bạn đã bình phục. Ở người già và người bị các bệnh khác như suy tim ứ huyết, tiểu đường và thiếu máu, thời gian hồi phục có thể kéo dài hơn và diễn biến bệnh có thể nặng hơn.

Trong một số ít trường hợp viêm gan bùng phát - một tình trạng đe dọa tính mạng gây suy gan có thể sảy ra. Đặc biệt có nguy cơ là ở những người bị bệnh gan mạn hoặc ghép gan.

Ngoải ra, một số nghiên cứu cho rằng quá trình viêm gây ra bởi viêm gan A có thể góp phần gây cứng động mạch (xơ mỡ động mạch).

Điều trị

Chưa có biện pháp điều trị đặc hiệu đối với viêm gan A. Thay vào đó, mục tiêu chủ yếu là đảm bảo đầy đủ dinh dưỡng và tránh tổn thương gan vĩnh viễn. Nếu buồn nôn, bạn nên ăn làm nhiều bữa nhỏ trong ngày thay vì ăn ba bữa lớn. Nên ăn thức ăn mềm, dễ tiêu hóa như súp hoặc cháo, sữa chua và bánh mì nướng. Bạn cũng có thể thấy dễ ăn vào buổi sáng hơn là buổi chiều.

Ngay sau khi bạn được chẩn đoán viêm gan A, hãy báo cho bác sĩ biết về các thuốc mà bạn đang dùng, kể cả những thuốc không kê đơn. Bác sĩ sẽ khuyên bạn nên ngừng hay thay đổi một số thuốc. Cũng nên tránh uống rượu trong giai đoạn cấp của bệnh. Ngay cả sau khi bạn đã hồi phục, cũng không nên dùng phối hợp rượu với acetaminophen (Tylenol, các thuốc khác) vì có thể gây tổn thương gan kể cả ở người không bị viêm gan.

Phòng bệnh

Viêm gan siêu vi A rất dễ lây. Ngăn ngừa sự lây lan của virus bao gồm bảo vệ bạn và những người khác khỏi bị nhiễm bệnh.

1. Phòng bệnh cho bản thân

Các biện pháp dưới đây có thể bảo vệ bạn tránh được nhiễm HAV:

-Tiêm globulin miễn dịch hoặc vaccin viêm gan: cách tốt nhất để bảo vệ bạn là tiêm globulin miễn dịch - một chế phẩm kháng thể hoặc tiêm vaccin viêm gan. Globulin miễn dịch chỉ bảo vệ bạn trong một thời gian ngắn trong khi vaccin viêm gan có thể bảo vệ bạn tới 20 năm. Cơ quan quản lý thuốc và thực phẩm Mỹ (FDA) đã chấp thuận vaccin viêm gan A đầu tiên từ giữa những năm 1990. Những loại vaccin Havrix và Vaqta này chứa dạng HAV bất hoạt an toàn cho trẻ em trên 2 tuổi cũng như cho hầu hết người lớn kể cả những người bị tổn thương hệ miễn dịch. Trẻ em dưới 2 tuổi nếu có nguy cơ cũng nên tiêm globulin miễn dịch. Vaccin chỉ gây tác dụng phụ nhẹ, mặc dù phản ứng dị ứng đôi khi có thể xảy ra. Vì phải mất 4 tuần thì vaccin mới phát huy tác dụng, bạn nên tiêm 1 mũi globulin miễn dịch nếu định đi du lịch tới vùng có nguy cơ nhiễm cao trước khi bạn có miễn dịch đầy đủ. Ngoài ra, nên tiêm 1 mũi nhắc lại sau 6-12 tháng.

FDA cũng đã cấp phép cho một vaccin viêm gan khác là Twinrix vào tháng 5/2001. Twinrix dùng cho những người từ 18 tuổi trở lên, có khả năng bảo vệ chống lại cả virus viêm gan A và B. Nghiên cứu đã cho thấy Twinrix có hiệu quả như các vaccin viêm gan A và B riêng rẽ. Tác dụng phụ thường nhẹ, bao gồm đau nhẹ nơi tiêm, đau đầu và mệt mỏi. Những triệu chứng này thường biến mất trong vòng 48 giờ.

Nếu bạn có nguy cơ cao nhiễm viêm gan A và không có bảo hiểm y tế, hãy thông báo cho cơ quan y tế địa phương. Ở hầu hết các vùng đều có vaccin miễn phí hoặc giá rẻ.

- Cần nhớ rằng nếu bạn đã nhiễm viêm gan A, bạn không cần phải tiêm chủng vì bạn đã có kháng thể bảo vệ. Tuy nhiên, những kháng thể này không bảo vệ bạn khỏi nhiễm các loại viêm gan khác.

Tuân thủ những lời khuyên dành cho khách. Nếu bạn đang đi du lịch đến những vùng có dịch viêm gan A, bạn có thể phòng bệnh bằng cách tự rửa sạch và gọt vỏ các loại rau quả tươi, tránh ăn thịt và cá sống hoặc tái. Uống nước đóng chai và tránh cho đá vào đồ uống. Nếu không có nước đóng chai, đun sôi nước máy ít nhất 10 phút trước khi uống. Đừng quên sử dụng nước đóng chai để đánh răng và không nên vừa tắm vòi hoa sen vừa hát.

- Vệ sinh cá nhân. Rửa tay sạch thường xuyên sẽ bảo vệ bạn không bị nhiễm nhiều loại virus và vi khuẩn. Rửa tay sau khi đi vệ sinh, trước khi chuẩn bị đồ ăn hoặc ăn, và sau khi thay tã cho trẻ. Ngoài ra, không dùng chung khăn mặt, dụng cụ ăn hoặc bàn chải đánh răng.

2. Phòng bệnh cho người xung quanh

Nếu bạn bị viêm gan A, các biện pháp dưới đây sẽ giúp bạn không truyền virus cho người khác:

- Nếu bạn là nam giới đồng tính hoặc lưỡng tính luyến ái, nên tránh sinh hoạt tình dục. Vì HAV có thể lan truyền qua đưòng miệng-hậu môn và đường tay-hậu môn, sử dụng bao cao su không nhất thiết bảo vệ được bạn tình của bạn.

- Rửa tay cẩn thận sau khi đi vệ sinh. Cọ rửa kỹ ít nhất 10 giây và xả sạch nước. Nếu có thể, lau khô tay bằng khăn dùng một lần.

- Để riêng dụng cụ ăn của bạn không để người khác dùng. Rửa bát đĩa bằng máy rửa bát hoặc bằng xà phòng nóng.

- Đừng chuẩn bị thức ăn cho người khác trong khi bạn đang bị viêm gan hoạt động.

Thuốc bổ sung và thay thế

Ở châu Âu, nhựa cây kế (Silybum marianum) đã được dùng từ hàng trăm năm nay để điều trị vàng da và các rối loạn khác ở gan. Ngày nay, các nghiên cứu khoa học đã xác nhận rằng thành phần chính của nhựa cây kế là silymarin, có thể giúp làm lành và phục hồi gan. Sylimarin kích thích sản sinh các enzym chống oxy hóa giúp gan trung hoà độc tố. Nó cũng giúp tăng sinh tế bào gan mới và cải thiện sẹo xơ gan.

Mặc dù nhựa cây kế lợi cho gan, nó không chữa khỏi viêm gan và không bảo vệ được bạn khỏi nhiễm virus.

Nhựa cây kế được bán ở dạng viên nang hoặc cao không có cồn. Nên đi khám bác sĩ trước khi thử dùng thảo dược này cũng như bất kỳ một thảo dược nào khác để đảm bảo chúng không tương tác với các thuốc khác mà bạn đang dùng.


Thuốc gây viêm gan

Thế nào là viêm gan do thuốc?

Viêm gan do thuốc là tình trạng các tế bào gan bị phá hủy do dùng 1 loại thuốc nào đó. Tổn thương gan loại này không do vi khuẩn nên không bao giờ làm mủ và do đó không có chỉ định dùng kháng sinh. Nhiều người quan niệm là khi bị viêm phải dùng kháng sinh là hoàn toàn không đúng.

Trong trường hợp này, nếu dùng kháng sinh thậm chí còn có hại, vì viêm gan do thuốc thường xảy ra ở những bệnh nhân có cơ địa dị ứng mà các loại kháng sinh là loại thuốc rất dễ gây dị ứng.

Các thuốc nào hay gây viêm gan?

Có rất nhiều loại thuốc có thể gây viêm gan. Sơ bộ người ta chia ra làm 2 nhóm chính tùy theo cơ chế gây viêm gan của thuốc.

- Nhóm 1: Các thuốc được chuyển hóa ở gan gây ngộ độc gan do sử dụng quá liều lượng hoặc sử dụng kéo dài. Các thuốc này làm tổn thương hệ thống khử độc của tế bào gan, do đó làm giảm sút khả nǎng thải độc ở gan và phá hủy tế bào gan.

Viêm gan theo kiểu này thường xảy ra do 2 tình huống

+ Dùng thuốc quá liều lượng do cố tình (tự tử) hoặc do nhầm lẫn các loại thuốc ngủ loại phenobacbital, thuốc trừ sâu, thuốc diệt chuột...

+ Bệnh nhân đang dùng thuốc để điều trị 1 bệnh mạn tính nào đó như các thuốc chống lao (pyrazinamid, rifamicin, rimifon), thuốc chống tǎng huyết áp loại anphamethyldopa, thuốc cảm cúm loại paracetamol, các loại thuốc chống viêm khớp, thuốc hạ mỡ máu... Vì thế những bệnh nhân đang điều trị những bệnh này cần phải được theo dõi định kỳ và làm các xét nghiệm chức nǎng gan để phát hiện biến chứng viêm gan do thuốc.

- Nhóm 2: dùng thuốc với liều lượng nhỏ, thậm chí rất ít vẫn gây viêm gan. Tổn thương gan gây ra do các loại thuốc này là do phản ứng quá mức của cơ thể với thuốc. Viêm gan theo kiểu này thường hay gặp ở những người có cơ địa dị ứng hoặc trong gia đình có nhiều người bị dị ứng.

Các biểu hiện của viêm gan do thuốc là gì?

Nói chung các triệu chứng của viêm gan do thuốc thường xuất hiện vài ngày hoặc vài tháng sau khi dùng thuốc. Thời gian xuất hiện triệu chứng tùy thuộc vào loại thuốc sẽ gây viêm gan theo kiểu nào, kiểu nhóm 1 hay nhóm 2. Các biểu hiện bệnh cũng giống hầu hết các loại viêm gan khác: mệt mỏi, chán ǎn, sốt thường không cao, đi giải vàng và vàng da. Cần lưu ý là dấu hiệu nước tiểu vàng sậm thường xuất hiện sớm trước khi có vàng da nên nếu thấy xuất hiện tiểu vàng cần đi khám bệnh ngay để được phát hiện bệnh kịp thời. Tuy nhiên cũng có nhiều loại thuốc được đào thải qua đường tiểu và làm nước tiểu sẫm màu nên khó phân biệt được sự thay đổi màu sắc nước tiểu là do thuốc hay do viêm gan.

Chẩn đoán quyết định viêm gan do thuốc phải dựa thêm các xét nghiệm đánh giá chức nǎng gan, các xét nghiệm loại trừ viêm gan do vi rút và các nguyên nhân khác.

Bệnh có nguy hiểm không?

Viêm gan do thuốc thường là cấp tính, ít khi là viêm mạn tính. Nếu ngừng thuốc gây viêm gan kết hợp với các thuốc bảo vệ tế bào gan và chế độ ǎn uống hợp lý, có thể bệnh sẽ thuyên giảm dần.

Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp bệnh diễn biến cấp tính rầm rộ và nặng. Nói chung, khi bị viêm gan do thuốc bắt buộc phải điều trị tại các bệnh viện chuyên khoa.

Cách phòng bệnh như thế nào?

Thuốc được ví như con dao 2 lưỡi , nó có tác dụng điều trị một số bệnh nhưng cũng có những tác dụng phụ ngoài ý muốn. Chỉ nên dùng thuốc trong trường hợp cần thiết theo đúng chỉ định của bác sĩ.

Viêm gan siêu vi C

1. Siêu vi viêm gan C

Siêu vi viêm gan C (SVVG C) là một loaị virut có khuynh hướng xâm nhập tế bào gan, gây ra bệnh viêm gan. Bệnh viêm gan siêu vi C mới được phát hiện từ năm 1989, do đó xét nghiệm chẩn đoán bệnh chỉ có thể làm được trong những năm gần đây.

Cách lây nhiễm siêu vi viêm gan C

Siêu vi viêm gan C lưu hành trong máu, do đó bệnh viêm gan C lây truyền chủ yếu qua đường máu. Những đường lây nhiễm siêu vi C chủ yếu:

1. Người nhận máu hoặc chế phẩm máu nhiễm siêu vi C: Mặc dù các biện pháp lựa chọn người cho máu đang được áp dụng, SVVG C vẫn có thể lọt lưới và được truyền sang người nhận.

2. Dùng chung kim tiêm nhiễm siêu vi C: Sử dụng chung kim tiêm ở những người nghiện ma túy làm gia tăng đáng kể lây nhiễm bệnh viêm gan C.

3. Nhân viên Y tế: Bất kỳ nhân viên Y tế nào (Bác sỹ, Nha sỹ, Y tá, Y công.) cũng có thể bị nhiễm SVVG C do tiếp xúc với bệnh phẩm chứa siêu vi trong qúa trình làm việc.

4. Ðường tình dục: Có nguy cơ lây nhiễm siêu vi C qua quan hệ tình dục nhưng hiếm hơn bệnh viêm gan B.

5. Mẹ truyền sang con: Người ta ghi nhận có sự lây truyền từ mẹ sang con, nhưng tỉ lệ thấp.

6. Nguyên nhân khác: xăm mình, xỏ lỗ tai với vật dụng không tẩy trùng tốt có thể lây truyền siêu vi C.

7. Không rõ đường lây nhiễm: chiếm 30-40% trường hợp.

2. Diễn tiến bệnh viêm gan siêu vi C

Nhiễm trùng cấp tính

Phần lớn bệnh nhân không có triệu chứng lâm sàng. Một số khác có biểu hiện mệt mỏi, chán ăn, có thể vàng da, vàng mắt, nước tiểu đậm màu.Chẩn đoán bệnh dựa vào xét nghiệm máu.

Nhiễm trùng mạn tính:

Khoảng 85% trường hợp nhiễm SVVG C sẽ chuyển thành viêm gan mạn tính, nghĩa là không đào thải được virut sau 6 tháng. Ðặc điểm nổi bật của bệnh viên gan C mạn tính là sự tiến triển rất thầm lặng qua 10-30 năm, vì thế người bệnh thường không được chẩn đoán và điều trị kịp thời. Nhiều trường bệnh chỉ được phát hiện khi đã có biến chứng nghiêm trọng: xơ gan với biểu hiện báng bụng (ổ bụng có nước), giãn mạch máu đường tiêu hóa, có thể vỡ gây chảy máu ồ ạt và tử vong. Một biến chứng nữa là ung thư tế bào gan.

Khi đã xơ, gan khó hồi phục lại, cho dù tình trạng viêm có thuyên giảm. Vì vậy, các thầy thuốc khuyên nên điều trị sớm nhằm ngăn ngừa hoặc làm chậm tiến triển sang giai đoạn xơ gan.

Hình 1: Sơ đồ nhiễm viêm gan siêu vi C


3. Chuẩn đoán bệnh viêm gan siêu vi C

3.1. Xét nghiệm máu

Men gan tăng chứng tỏ tế bào gan đang bị phá hủy. Kháng thể chống siêu vi C dương tính trong hầu hết các trường hợp. Chức năng gan có thể rối loạn tùy mức độ và thời gian bị bệnh.

3.2. Khám chuyên khoa gan

Sau khi xác nhận đang có quá trình viêm gan, Bác Sỹ sẽ khuyên Bạn làm thêm các xét nghiệm:

1. Xét nghiệm đánh giá chức năng gan

2. Siêu âm gan: Nhằm nghiên cứu cấu trúc của gan và các bộ phận xung quanh, tìm dấu hiệu xơ gan hoặc biểu hiện bất thường khác.

3. Sinh thiết gan: Xét nghiệm này cho phép các chuyên gia quan sát tế bào gan dưới kính hiển vi, xác định mức độ viêm nhiễm, chẩn đoán giai đoạn bệnh, đánh giá hiệu quả điều trị.

4. Xét nghiệm HCV RNA: Phát hiện trực tiếp siêu vi trong máu, đồng thời định danh dưới nhóm để lựa chọn phác đồ hợp lý. Xét nghiệm này còn được sử dụng để tiên lượng đáp ứng tốt với điều trị.

4. Lời khuyên về chế độ ăn và lối sống

Chế độ ăn

Bạn nên hạn chế uống rượu bia, bởi vì xơ gan dễ xảy ra hơn ở người viêm gan đồng thời nghiện rượu. Bệnh nhân viêm gan C có thể duy trì chế độ ăn lành mạnh bình thường. Khi đã có xơ gan, Bác Sỹ khuyên nên áp dụng chế độ ăn giảm muối.

Lối sống

Như đã nêu ở trên, siêu vi viêm gan C lây truyền qua đường máu. Nếu bạn bị đứt tay, hãy lau sạch máu bằng dung dịch sát trùng. Mặc dù nguy cơ lây nhiễm thấp, bạn vẫn nên áp dụng phương pháp bảo vệ khi quan hệ tình dục.

Ðiều trị

Bệnh viêm gan C mạn tính cần được điều trị càng sớm càng tốt nhằm:

1. Giảm thiểu hoặc loại trừ hoàn toàn tình trạng viêm gan, do đó ngăn ngừa diễn tiến sang xơ gan, ung thư gan.

2. Ðào thải hoặc giảm bớt lượng siêu vi C trong cơ thể, đặc biệt là ở gan.

5. Ðiều trị đặc hiệu

Cho đến nay, biện pháp cơ bản điều trị viêm gan siêu vi C là Interferon alpha. Ðây là một chất tự nhiên của cơ thể, được sản xuất bởi các tế bào đề kháng khi bị nhiễm siêu vi. Như vậy, khi được dùng để điều trị bệnh viêm gan C, interferon alpha bắt chước đáp ứng tự nhiên của cơ thể chúng ta.

Interferon alpha (RoferonỊ-A) được đóng sẵn trong bơm tiêm nhỏ, tiêm dưới da hoặc bắp thịt. Sau những lần tiêm đầu tiên, hầu hết bệnh nhân có cảm giác sốt nhẹ, mệt mỏi giống như cúm trong vài giờ. Lý do là việc điều trị Interferon alpha sẽ khởi động đáp ứng của cơ thể chống lại siêu vi trùng C, tương tự như đối với siêu vi trùng cúm. Những triệu chứng này giảm dần sau một vài tuần. Ðể hạn chế tác dụng phụ này, nên tiêm thuốc vào buổi tối và uống Paracetamol nửa tiếng trước khi tiêm﮼br> Trong thời gian điều trị, Bạn nên làm xét nghiệm máu để đánh giá đáp ứng. Sau khi kết thúc đợt điều trị, cần tiếp tục theo dõi 6 tháng tiếp theo, bởi vì một số bệnh nhân có thể tái phát sau khi ngưng điều trị.

Hiên nay, một số phác đồ phối hợp kháng sinh chống virut cho kết quả khỏi bệnh cao hơn, ví dụ kết hợp Interferon alpha với Ribavirin.

Bệnh viêm gan A lây qua đường ăn uống

Do virus viêm gan A lây qua đường ăn uống nên bệnh này rất dễ lan tràn. Nhân viên y tế, khách du lịch, cô bảo mẫu... là những người dễ mắc nhất. Triệu chứng khởi phát giống cảm cúm nên dễ bị bỏ qua.

Bệnh viêm gan A được biết đến từ thế kỷ thứ 2 trước Công nguyên. Danh y Hyppocrate đã mô tả bệnh này với tên gọi là “bệnh vàng da truyền nhiễm”. Đến năm 1947, bệnh được đặt tên là viêm gan A để phân biệt với viêm gan B, một bệnh viêm gan virus lây qua đường máu.

Viêm gan A là bệnh truyền nhiễm cấp tính, lưu hành khắp trên thế giới, nhất là ở các nước nghèo. Ở Đông Nam Á, bệnh thường gặp ở thanh thiếu niên. Một nghiên cứu tại Indonesia cho biết, có những vùng, tỷ lệ nhiễm virus viêm gan A (HAV) ở trẻ em dưới 4 tuổi lên đến 90-100%.

Tại Việt Nam, cũng một nghiên cứu cho thấy, tỷ lệ nhiễm HAV ở trẻ em Tân Châu (An Giang) là 97%. Tại các bệnh viện, HAV là nguyên nhân của khoảng 30-50% số trường hợp viêm gan cấp.

Viêm gan A lây trực tiếp từ người bệnh sang người lành qua thức ăn và nước uống bị nhiễm virus. Virus HAV được đào thải qua phân ở cuối thời kỳ ủ bệnh (kéo dài hàng tuần, cho tới khi lui bệnh). Bởi vậy, ăn uống mất vệ sinh là điều kiện thuận lợi cho viêm gan A. Nhân viên y tế, khách du lịch, cô bảo mẫu... là những đối tượng có nguy cơ cao. Nhiễm khuẩn thức ăn, nguồn nước là nguy cơ gây ra những vụ dịch lớn nhỏ hiện nay.

Viêm gan A cũng có thể lây qua truyền máu, tuy nhiên khả năng lây theo phương thức này là rất hy hữu.

Biểu hiện của bệnh

Viêm gan cấp tính: Sau một thời gian ủ bệnh, trung bình là 30 ngày, bệnh khởi phát đột ngột bằng các dấu hiệu giống như cảm cúm: sốt, ho, đau mỏi cơ, nhức đầu, mệt nhọc, chán ăn, đi tiểu ít, nước tiểu sẫm màu. Chính vì dấu hiệu này mà nhiều người chủ quan, cho rằng chỉ bị cảm cúm thông thường. Nếu không được phát hiện sớm, bệnh sẽ nặng lên, dẫn đến những biến chứng nguy hiểm.

Sau 5-7 ngày với những triệu chứng trên, bệnh nhân hết sốt nhưng vẫn tiếp tục mệt mỏi và chán ăn. Dấu hiệu vàng mắt, vàng da xuất hiện tăng dần và thường kéo dài 2-4 tuần. Bệnh viêm gan A cấp tính thường tự khỏi, bệnh nhân đi tiểu nhiều và hết vàng da, vàng mắt.

Nhưng có khoảng 2% số trường hợp diễn biến nặng, có thể dẫn đến suy gan, hôn mê gan, làm cho người bệnh tử vong.

Viêm gan tối cấp: Bệnh diễn biến nhanh chóng trong một tuần với biểu hiện sốt cao, vàng mắt, mệt lả, gan teo nhỏ. Hôn mê gan thường là biểu hiện cuối cùng trước khi tử vong.

Viêm gan kéo dài: Hiện tượng này rất ít gặp. Biểu hiện là ứ mật kéo dài, đôi khi xảy ra 2-3 tháng, nhưng ít khi để lại hậu quả nặng nề. Không ghi nhận thể viêm mạn tính hoặc tình trạng mang HAV suốt đời.

Điều trị và phòng ngừa

Hầu hết các trường hợp viêm gan A cấp tính thường diễn biến nhẹ. Phương pháp điều trị chủ yếu là nằm nghỉ, không nên tiếp tục học tập và lao động trong thời gian mắc bệnh.

Tuy nhiên, người bệnh không nên tự điều trị tại nhà mà cần đến bệnh viện để khám, xét nghiệm để xác định thể bệnh. Đa số các bệnh nhân cần điều trị nội trú tại bệnh viện.

Bệnh nhân cần được chăm sóc tốt, ăn những thức dễ tiêu hóa, không nên dùng nhiều mỡ, đường... tránh cho gan phải làm việc mệt nhọc.

Trước đây khi chưa có văcxin đặc hiệu, người ta sử dụng liệu pháp tiêm dự phòng bằng globulin miễn dịch-Ig, song hiệu quả thấp và thời gian miễn dịch ngắn (khoảng 1 tuần). Cách ly người bệnh, ăn uống vệ sinh cũng là biện pháp phòng bệnh nhưng không thật sự đặc hiệu, không ngừa được đại dịch xảy ra.

Hiện nay, văcxin viêm gan A (là virus sống bất hoạt, giảm độc lực) đã được sử dụng trên toàn thế giới và Việt Nam, có tính miễn dịch và độ an toàn cao.

Popular Posts