Showing posts with label Bệnh Thận. Show all posts
Showing posts with label Bệnh Thận. Show all posts

Thursday, November 5, 2009

50 câu hỏi về bệnh lý thận

Giải đáp 50 câu hỏi bệnh lý thận(bs.lye wai choong)

- Tôi muốn hỏi dấu hiệu của bệnh suy thận là gì? Cách phòng ngừa? Tôi hay đi tiểu tiện vào ban đêm (mùa đông cũng như mùa hè). Những năm trước thì chỉ có mùa đông, nhưng sang năm nay thì cả mùa hè cũng phải tiểu đêm. Tôi có bị suy thận không? (Cường, 36 tuổi, Canada)
- Trả lời : Hầu hết bệnh nhân suy thận thường không có triệu chứng. Tiểu nhiều vào ban đêm có thể là một dấu hiệu của suy thận. Tốt nhất, bạn nên gặp bác sĩ chuyên khoa thận để được tư vấn thêm về tình trạng của mình.
- Bố tôi 70 tuổi đang điều trị ung thư bàng quang bằng phương pháp xạ trị. Cùng thời gian này bác sỹ kiểm tra và phát hiện ông bị suy thận độ 2. Tôi muốn hỏi suy thận chia làm mấy giai đoạn và ở mức suy thận độ 2 thì phương pháp điều trị gì là tốt nhất. (Thủy, 37 tuổi, Đà Nẵng)
-Trả lời : Có 5 giai đoạn suy thận, giai đoạn 2 chỉ là giai đoạn nhẹ. Bạn nên kiểm soát tốt huyết áp và tránh những thuốc gây tổn thương cho thận chẳng hạn như: những thuốc giảm đau mạnh.
- Ông xã tôi bị suy thận mãn tính và đã ghép thận từ năm 2002. Đến nay phải chạy thận nhân tạo lại được 2 tháng. Xin cho biết giờ ông xã tôi muốn ghép thận lần hai thì kết quả có khả quan không? Trong trường hợp bị nhiễm viêm gan C thì liệu có ghép thận được không? Hiện nay gia đình không có ai hiến thận, vậy VN có ngân hàng thận chưa? (Hồ Châu, 55 tuổi, Vĩnh Phúc)
-Trả lời : Chồng của chị có thể ghép thận lần 2 nếu bệnh viêm gan siêu vi C của anh đã được khống chế và có thể tìm được người hiến thận thích hợp. Tôi không nắm rõ tình hình ngân hàng hiến thận của Việt Nam.
- Chế độ ăn uống ảnh hưởng như thế nào tới bệnh thận. Các em bé nếu ăn mặn lâu dài thì nguy cơ bị bệnh thận có cao không? (Việt Hà, 32 tuổi, TP HCM)
-Trả lời : Chế độ ăn ảnh hưởng rất ít đến bệnh thận. Ăn mặn không phải là nguyên nhân gây suy thận.
- Thưa bác sĩ ghép thận thì quả thận mới hoạt động được bao nhiêu lâu phải thay lại? Một ca ghép thận chi phí mất bao nhiêu tiền ạ. Bác có thể tư vấn cho cháu phác đồ điều trị viêm cầu thận mạn được không. Cháu đã điều trị được 3 năm bệnh không tái phát, nhưng một năm trở lại đây bệnh rất hay tái phát mặc dù cháu đã kiêng rất kỹ. (Lê Bác Sơn, 32 tuổi, TP HCM)
-Trả lời : 50% trường hợp quả thận ghép sẽ hoạt động được 15 năm. Chi phí cho một ca ghép thận tại Singapore trung bình từ 65.000-75.000 đôla Singapore. Về bệnh viêm vi cầu thận mạn của bạn, tùy thuộc vào từng loại mô học sẽ có phương pháp điều trị tương ứng.
- Bà xã tôi bị suy thận mãn giai đoạn cuối (bị 2,5 năm), điều trị tại bệnh viện Chợ Rẫy, bác sĩ nói một là chạy thận hoặc ghép thận. Các triệu chứng bình thường, chỉ hơi ốm và thiếu máu, ăn uống bình thường, đi tiểu được, không buồn nôn, ói mửa, ăn ngủ được… Với biểu hiện thế, bác sĩ khuyên có nên thay thận hay chạy thận nhân tạo hay có phương án nào khác (Mạc Thị Lệ, 36 tuổi, TP Plâycu, Gia Lai).

- Trả lời : Có cần thiết phải ghép thận hay không tùy thuộc vào chức năng thận, ví dụ như mức độ Creatinin trong máu. Với những dữ kiện bạn đưa ra, chúng tôi không thể tư vấn vợ của bạn có cần ghép thận hay không.
- Con tôi năm nay 20 tuổi, đang chạy thận được 3 năm, đã có người hiến thận cùng nhóm máu O, xin hỏi thủ tục sang ghép tại bệnh viện Singapore gồm giấy tờ gì? Nếu xét nghiệm giữa người cho và người nhận hợp nhau tôi cần chuẩn bị số tiền khoảng bao nhiêu? (Vũ Kim Loan, 55 tuổi, Cần Thơ)
- Trả lời : Nếu người cho thận có sức khỏe tốt và các xét nghiệm bình thường, bạn nên liên hệ văn phòng đại diện của tập đoàn Parkway tại TP HCM để biết thêm chi tiết về các thủ tục. Đầu tiên người cho và người nhận cần phải làm một số xét nghiệm chi tiết tại Singapore. Sau đó, cả hai sẽ phải trải qua cuộc phỏng vấn của Ủy ban đạo đức của nước này để được chấp thuận cho cuộc ghép thận.
- Tôi là nhân viên văn phòng, hay bị đau ở vùng thắt lưng, liệu đó có phải là triệu chứng của bệnh thận không ạ? (Bùi Thị Hương, 31 tuổi, Hà Nội)
- Trả lời : đau ở thắt lưng không phải là triệu chứng của bệnh thận mà thường là đau cơ. Tuy nhiên bạn cần phải kiểm tra để loại trừ bệnh sỏi niệu quản, sỏi thận.
- Mẹ tôi năm nay đã 54 tuổi và phải chạy thận nhân tạo đã hơn 3 năm nay. Cuối năm 2005 đến 2007 thì chạy thận 2 lần/tuần. Cuối năm 2007 đã tăng lên 3 lần/tuần. Tại sao số lần chạy thận lại tăng lên? Liệu sau này có tăng số lần chạy? Những ảnh hưởng lên sức khỏe khi chạy thận nhân tạo là gì? Trên thế giới, người chạy thận lâu nhất là bao nhiêu năm? Tôi và mẹ tôi cùng nhóm máu O thì tôi có thể cho mẹ tôi thận được không? Xin chân thành cám ơn! (Phạm Thái, 33 tuổi, Hưng Yên)
- Trả lời : Số lần chạy thận trong tuần của mẹ bạn tăng lên vì chức năng thận giảm. Thông thường, số lần chạy thận tối đa là 3 lần một tuần. Dĩ nhiên, nếu cùng nhóm máu, bạn có thể hiến thận cho mẹ của bạn.
Một số tác dụng phụ của chạy thận nhân tạo như: chóng mặt, nôn, buồn nôn, nhức đầu… Tuy nhiên, bạn đừng quá lo lắng về những tác dụng phụ này khi bệnh nhân cần phải chạy thận nhân tạo để chữa trị bệnh. Trên thế giới, người chạy thận lâu nhất được ghi nhận là 25 năm.
- Anh tôi 38 tuổi và phát hiện bị thận cấp 4 từ năm 2007. Từ đó đến nay cứ tuần 3 lần anh đi chạy thận. Sức khỏe anh giảm đi rõ rệt. Anh tôi có cơ hội nào để cải thiện sức khỏe hay không? Việc chạy thận có phải ăn uống kiêng khem thế nào không? (Nguyễn Anh, 35 tuổi, TP HCM)
- Trả lời : Suy thận gồm có 5 giai đoạn. Giai đoạn 1 tổn thương thận ít, chức năng thận bình thường. Giai đoạn 2 chức năng thận vẫn duy trì hoạt động từ 70-90%. Giai đoạn 3 chức năng thận vẫn còn 30-70%. Giai đoạn 4 chức năng thận chỉ còn dưới 30%. Giai đoạn 5 là suy thận giai đoạn cuối. Anh của bạn bị suy thận cấp 4 nên cần phải ghép thận. Trong khi đang chạy thận, anh bạn cần ăn nhiều đạm, uống ít nước, Hemoglobin trong máu ít nhất là 10mg%.
- Tôi muốn biết tại sao chạy thận định kì (3 lần/tuần) lại bị đau nhức xương khớp, mất ngủ, nám da mặt và ngứa. Tiến sĩ cho biết lý do và cách phòng ngừa. Các biến chứng có thể xảy ra khi chạy thận nhân tạo và cách phòng ngừa. Việc ghép thận không cùng nhóm máu khi nào có thể tiến hành tại VN và giá cả có hạ so với giá một tờ báo đã đăng là từ 1.5-2 tỷ VND (Bùi Chí Thanh, 42 tuổi, 63/18 Nguyễn Hữu Cầu)
- Trả lời : Triệu chứng đau nhức xương, ngứa có thể là do nồng độ phosphate và hoóc môn tuyến cận giáp trong máu tăng. Bạn cần trao đổi với bác sĩ để tiến hành điều trị nếu có tăng phosphate và hoóc môn tuyến cận giáp trong máu.
- Tôi có người bạn bị suy thận mãn và chạy thận nhân tạo được hơn 7 năm rồi. Gia đình đang muốn ghép thận cho bạn nhưng không biết thời gian trung bình sống thêm hiện nay của các bệnh nhân ghép thận là bao nhiêu năm? Nếu không có ai trong gia đình tự nguyện hiến tạng thì có cách nào để bạn tôi được ghép thận hay không? Người Việt Nam có thể ghép thận được ở Singapore hay không? Chi phí? Xin chân thành cám ơn bác sĩ. (Nguyen Hùng, 35 tuổi, Bình Định)
- Trả lời : Bạn hãy yên tâm vì người được ghép thận vẫn sống như người bình thường. Bạn nên tìm người hiến thận là người trong gia đình hay họ hàng. Rất nhiều bệnh nhân Việt Nam đã được ghép thận tại Singapore. Bạn có thể tham khảo thông tin và chi phí cho một ca ghép thận ở câu trên.
- Tôi mới ghép thận được 2 tháng, hiện nay vợ của tôi đang mang thai được 5 tuần. Xin hỏi bác sĩ liệu tôi có nên giữ bào thai được không? Nghe nói mới ghép thì không nên có con? Tại sao? (Lê Thanh Quang, 33 tuổi, Số 44, đường 22, Q.6, TP HCM)
- Trả lời : Bạn nên giữ bào thai, vì ghép thận và thuốc chống thải ghép không ảnh hưởng gì đến thai nhi.
- Vì ban ngày bận đi làm tôi không thể cho con uống nước cam nên tôi chỉ có thể cho con uống vào buổi chiều hoặc buổi tối nhưng tôi nghe nói uống nước cam vào buổi tối đặc biệt là trẻ em sẽ dễ bị bệnh thận, như vậy có đúng không thưa bác sĩ? (Thúy Hà, 31 tuổi, Lào Cai)
- Trả lời : Không có chứng cứ khoa học nào chứng minh việc uống nước cam vào buổi tối sẽ dẫn đến bệnh thận.
- Xin chào bác sĩ, tôi có người nhà bị suy thận đã 3,5 năm. Vừa rồi thử máu kiểm tra thì chỉ số creatinin lên tới 630, tình trạng sức khỏe bình thường. Xin bác sĩ cho biết chỉ số creatinin như vậy đã phải lọc máu hoặc thay thận chưa. Trường hợp phải lọc máu và thay thận thì phương án nào tốt hơn. Người nhà tôi còn trẻ, đang đi làm. Xin cảm ơn bác sĩ (Van Ha, 26 tuổi, Ha Noi)
- Trả lời : Vì bạn không cho biết tuổi của người bệnh nên chúng tôi không thể cho lời khuyên cụ thể. Tuy nhiên, nếu tình trạng sức khỏe của người bệnh bình thường, với chỉ số creatinin như thế, nên tiếp tục uống thuốc theo hướng dẫn của bác sĩ điều trị.
- Cho tôi hỏi là nếu tối hiến thận cho người khác thì sức khỏe của tôi có bình thường như trước hay không? Cám ơn BS (Huỳnh Trí, 40 tuổi, HCM)
- Trả lời : Nếu sức khỏe của bạn bình thường thì việc hiến thận không ảnh hưởng gì đến sức khỏe của người hiến.
- Tôi bị sạn cả 2 thận (đường kính 20), thận trái không bị ứ nước, thận phải ứ nước độ 1, thỉnh thoảng bị đau tức phần lưng bên phải. Xin hỏi tôi có cần phải lấy hết sỏi thận ra hay cứ “sống chung” với chúng? Tôi có nên tán sỏi không? (Duc Nguyen, 47 tuổi, Bắc Giang)
- Trả lời : Do có triệu chứng đau lưng bên phải nên bạn cần đi kiểm tra xem sạn thận bên phải có gây tắc nghẽn hay không. Nếu có, bạn cần phẫu thuật để lấy sạn thận bên phải. Bạn có thể phẫu thuật hoặc tán sỏi, tùy trường hợp.
- Chúng tôi nghe nói rằng: Nếu bị viêm họng mà không điều trị đến nơi đến chốn thì lâu ngày sẽ dẫn đến suy thận. Điều này có đúng không? (Le Minh Hien, 34 tuổi, Quảng Nam)
- Trả lời : Đôi khi việc bị viêm họng lâu ngày mà không điều trị đến nơi đến chốn thì cũng có khả năng bị suy thận, chủ yếu là ở trẻ em.
- Tôi là Toàn ở Hải Phòng. Năm nay 29 tuổi, Tôi bị suy thận, đã chạy thận chu kỳ được 4 năm. Năm ngoái tôi có định ghép thận, nhưng khi xét nghiệm phát hiện virus viêm gan C (mật độ virus là 80000, Tuyp I), hiện tại chức năng gan vẫn tốt. Tôi muốn hỏi là có nhất thiết phải điều trị cho mật độ virus xuống trước hay không? Hay sau khi ghép điều trị cũng được (vì chi phí điều trị viêm gan rất lớn). Xin cảm ơn.
- Trả lời : Viêm gan siêu vi C type I rất khó điều trị và nhiều tác dụng phụ. Tuy nhiên, bạn cần phải điều trị viêm gan siêu vi C trước khi ghép thận.
- Xin chào bác si. Mẹ tôi năm nay 52 tuổi, đã ghép thận 2 lần ở Trung Quốc, lần thứ 2 ghép cách đây 4 năm. Xin hỏi là một người có thể được ghép tối đa mấy quả thận, và làm thế nào để gìn giữ quả thận được ghép một cách tốt nhất. (Đào Minh Tuấn, 32 tuổi, 12 pham ngoc thach, Quận 3, TPHCM)
- Trả lời : Bệnh nhân có thể ghép thận lần 3, tuy nhiên, cuộc phẫu thuật sẽ vô cùng khó khăn. Lời khuyên của tôi là nên giữ quả thận ghép lần 2 hoạt động càng lâu càng tốt bằng những loại thuốc mới đúng liều lượng. Bạn có thể liên hệ ngay bây giờ vào đường dây nóng của tòa soạn: 08 7300 8899 (ext: 8500) để được tư vấn thêm.
- Xin chào bác sĩ. Tôi 27 tuổi, bác sĩ chẩn đoán bị suy thận giai đoạn 2, huyết áp cao. Tôi rất lo lắng, xin bác sĩ cho biết phải điều trị như thế nào? Có khả năng chữa dứt được không? Và ảnh hưởng đến sức khỏe sau này như thế nào? Xin cảm ơn. (Nguyễn Quốc Duy, 27 tuổi, Quận Tân Bình TPHCM)
- Trả lời : Bạn phải tìm hiểu nguyên nhân gây nên việc suy thận, tùy thuộc vào nguyên nhân gây bệnh thì bác sỹ mới có thể tư vấn phương pháp điều trị tốt nhất cho bạn được. Đồng thời bạn phải cố gắng kiểm soát đừng để huyết áp cao.
- Thưa bác sĩ, vợ tôi bị suy thận độ 4, hiện đang dùng phương pháp lọc màng bụng bằng dung dịch thẩm phân phúc mạc DIANEAL của Singapore. Xin được hỏi bác sĩ là dùng phương pháp này nếu như tuân thủ nghiêm ngặt về vệ sinh thì thời gian tối đa được bao lâu, vợ chồng tôi mới có một cháu gái 7 tuổi, nếu như sức khỏe ổn định thì vợ tôi có thể sinh em bé được không? Xin cảm ơn bác sĩ. (Bùi Minh Hải, 36 tuổi, Lạng Sơn)
- Trả lời : Phương pháp thẩm phân phúc mạc có thể thực hiện cho vợ bạn là 10-15 năm. Vợ bạn không nên có thai vì đã bị suy thận độ 4 và đang thẩm phân phúc mạc.
- Tôi rất hay bị phù, đặc biệt khi ăn hơi mặn hoặc uống nhiều nước trước khi ngủ. Sáng thức dậy thì mặt, tay và cả mình đều có cảm giác bị sưng, sau một ngày ngồi làm việc thì 2 chân sưng nhiều. Tôi đi tiểu bình thường, không gắt. Thưa bác sĩ, triệu chứng như vậy có phải do thận bị suy? Tôi có đi xét nghiệm nước tiểu thì không thấy nói thận suy, tuy nhiên trong nước tiểu thường xuyên có lẫn một ít hồng cầu, chưa rõ nguyên nhân. (Hoàng Trang, 44 tuổi, TP HCM)
- Trả lời : Trường hợp của bạn có thể là triệu chứng của suy thận. Tốt nhất bạn nên làm thêm xét nghiệm máu để đo nồng độ Creatinin trong máu để biết chính xác thận có bị suy hay không.
- Tôi bị viêm đường tiết niệu và rất hay tái phát vậy có nguy cơ dẫn đến suy thận không ạ? (Mai Nga, 33 tuổi, Lâm Đồng)
- Trả lời : Viêm đường tiết niệu là bệnh rất thường gặp ở phụ nữ. Đó không phải là nguyên nhân gây suy thận.
- Mẹ tôi năm nay 62 tuổi đã chạy thận được 2 năm, vậy có thể còn ghép thận được không vì tôi nghe nói là muốn ghép thận thì không được chạy thận, và ghép thận thì ở bệnh viện nào, với chi phí cho toàn bộ ca ghép thận sẽ là bao nhiêu. (Tran Vinh, 38 tuổi, Nha Trang)
- Trả lời : Chạy thận không ảnh hưởng đến ghép thận. Trường hợp của mẹ bạn có thể được ghép thận nếu không kèm theo những bệnh lý khác như: bệnh tim mạch, nhiễm trùng…
- Xin cho tôi hỏi, tôi bị sỏi thận 6mm trong thận bên phải, tôi đã uống kim tiền thảo nhiều lần nhưng chưa thấy dấu hiệu hết sỏi, tôi có nên đi mổ hay điều trị hay không, liệu tôi có bị suy thận hay không? (Trần Thanh Long, 40 tuổi, Cà Mau)
- Trả lời : Đối với trường hợp của bạn viên sỏi thận chỉ 6 mm thì không cần phải mổ hay điều trị gì cả. Bạn chỉ cần uống nhiều nước là được.
- Cho tôi hỏi bệnh thận đa nang có nguy hiểm đến tính mạng không và có thể chữa khỏi hẳn không? (Hà Thu Hương, 28 tuổi, SN23, ngõ 67B lý nam đế, Hà Nội)
- Trả lời : Bệnh thận đa nang có thể dẫn đến suy thận về sau. Người bệnh cần theo dõi chức năng thận thường xuyên, kiểm soát tốt huyết áp.
- Con gái tôi được chuẩn đoán là có một thận bẩm sinh. Cháu có phải kiêng khem hoặc đề phòng gì không? (Thùy Dung, 38 tuổi, Hà Nội)
- Trả lời : Đối với trường hợp con của bạn thì không cần phải kiêng khem gì, bạn nên đưa cháu đi kiểm tra chức năng thận mỗi năm một lần.
- Xin bác sĩ cho biết các nguyên nhân gây bệnh thận và cách phòng chống (Nguyễn Xuân Sơn, 49 tuổi, ngõ 106 Hoàng Quôc Việt, Hà Nôi).
- Trả lời : Có rất nhiều nguyên nhân gây suy thận như: nhiễm trùng, sỏi đường niệu, cao huyết áp, tiểu đường, viêm vi cầu thận… Cách phòng chống tốt nhất là bạn nên khám sức khỏe thường xuyên, ít nhất mỗi năm một lần để kịp thời phát hiện bệnh.
- Tôi là nữ, 40 tuổi. Tôi hay bị tiểu buốt. Mỗi lần tiểu buốt, tôi có xét nghiệm nước tiểu, siêu âm bụng. Kết quả siêu âm luôn tốt. Còn nước tiểu thì có ++. Bác sĩ thường cho tôi uống kháng sinh trong 1 tuần thì hết bệnh. Việc tiểu buốt lặp đi lặp lại nhiều lần trong năm như thế có ảnh hưởng gì đến thận không? Cám ơn bác sĩ. Tony Ngo (Tonyngo, 40 tuổi, Canada)
- Trả lời : Triệu chứng của bạn có thể là nhiễm trùng tiểu, bệnh này thường gặp ở phụ nữ. Bệnh này không gây suy thận.
- Chức năng sinh lý của người phụ nữ chạy thận nhân tạo có bị ảnh hưởng nhiều không (hành kinh hàng tháng còn hay mất, khả năng sinh sản và quan hệ vợ chồng có phải là điều kiêng kị không).Tôi mới chạy thận nhân tạo được 4 tháng mà vợ chồng tôi mới lấy nhau, chưa có con, tôi rất muốn sinh được con (Hoàng Ngân, 33 tuổi, Hà Nội)
- Trả lời : Chạy thận nhân tạo không ảnh hưởng chức năng sinh lý phụ nữ nhưng rất khó để mang thai và cũng không an toàn khi mang thai.
- Sau ghép, tại sao chế độ ăn uống, sinh hoạt và dùng thuốc hoàn toàn theo sự hướng dẫn của bác sĩ. Vậy tại sao có người có kết quả tốt, có người lại có kết quả rất xấu (Hoang Hong Hanh, 20 tuổi, Hải Phòng)
- Trả lời : Sau khi ghép thận, người bệnh cần tuân thủ nghiêm ngặt liều lượng thuốc theo chỉ định của bác sĩ. Nếu uống không đủ liều sẽ dễ dẫn đến thải ghép. Tuy nhiên, nếu uống quá nhiều thuốc chống thải ghép, người bệnh rất dễ nhiễm trùng (vi khuẩn, virus, nấm…). Bệnh nhân cần được theo dõi ở những trung tâm thận có uy tín để giảm thiểu những biến chứng có thể xảy ra sau khi ghép.
- Tôi 28 tuổi, nam giới. Sau lần đau đầu tôi được chẩn đoán suy thận mạn, độ 3A. Creatin 400-470, ure 11 – 20. Tôi đang dùng thuốc theo chỉ định, lượng nước tiểu trong một ngày từ 1,7-2l. Từ khi phát bệnh các chỉ số không thay đổi, nhưng phải ăn kiêng nên bị giảm cân. Bệnh tôi có chữa được không? Có cách gì tăng cân trở lại? Có đươc ăn nhiều và uống bia? Thời điểm nào ghép thận là hợp lý? Người cho thận là mẹ tôi (58 tuổi), có được không? (Khánh Nguyễn, 28 tuổi, HN)
- Trả lời : Bạn nên ăn nhiều hơn để tăng cân tuy nhiên không nên uống bia. Bệnh suy thận mạn có thể khống chế nhưng không thể chữa khỏi. Bạn cần cân nhắc khả năng ghép thận khi nồng độ Creatinin trong máu lớn hơn 800 mg%. Nếu sức khỏe bình thường, mẹ bạn có thể hiến thận cho bạn.
- Xin chào bác sĩ. Ghép thận khác nhóm máu tỷ lệ thành công được bao nhiêu và trái thận đó có tồn tại suốt đời không. Khi muốn đi Sigapore ghép thận thì các thủ tục phải làm sao thưa bác si. (Thuy hang,25 tuoi, Trà Vinh)
- Trả lời : Bên cạnh việc ghép thận cùng nhóm máu, những trường hợp khác nhóm máu vẫn có thể ghép thận thành công. Các kháng thể chống lại thận của người hiến sẽ được lọc khỏi cơ thể của bệnh nhân. Đồng thời, bệnh nhân sẽ được sử dụng một loại thuốc đặc biệt để ngăn ngừa cơ thể sản sinh thêm nhiều kháng thể. Sau đó, có thể tiến hành cuộc ghép thận khác nhóm máu.
Nếu có bệnh thận, bạn nên thăm khám bác sĩ thường xuyên, kiểm tra chức năng thận, kiểm soát tốt huyết áp, uống thuốc theo chỉ định của bác sĩ. Mặc dù có rất nhiều câu hỏi, nhưng vì thời gian có hạn nên không thể giải đáp tất cả những thắc mắc của độc giả, xin hẹn gặp lại trong dịp khác.

Thursday, October 22, 2009

10 Dấu hiệu của bệnh về thận

Rất nhiều người mắc bệnh thận mạn nhưng không biết, bởi vì những dầu hiệu ban đầu có thể là rất khó thấy. Có thể mất nhiều năm để bệnh thận mãn (tiếng anh viết tắt là CKD) tiến triển thành suy thận. Một số người mắc bệnh thận mãn sống đến hết đời của họ mà chưa từng tiến tới suy thận.
Tuy nhiên, với nhiều người tại bất cứ giai đoạn nào của bệnh thận, thì hiểu biết về nó vẫn là tối ưu. Biết được các dấu hiệu của bệnh thận có thể giúp bạn có được cách điều trị tốt nhất. Nếu bạn hay một ai đó mà bạn biết có từ 1 triệu chứng trở nên trong số các triệu chứng của bệnh thận dưới đây, hay là khi bạn lo rằng bạn có vấn đề với thận của bạn, hãy đi khám bác sĩ để được xét nghiệm máu và nước tiểu. Hãy nhớ rằng, nhiều triệu chứng có thể không do bệnh thận gây nên. Nhưng cách duy nhất để biết nguyên nhân của các triệu chứng mà bạn đang có là đi khám bác sĩ.





Triệu chứng 1: Những thay đổi khi đi tiểu

Thận tạo ra nước tiểu, do vậy khi thận bị hỏng, có thể có những thay đổi đối với nước tiểu như sau
* Bạn có thể phải thức dậy vào đêm để đi tiểu
* Nước tiểu có bọt hay có nhiều bong bóng. Bạn có thể đi tiểu nhiều lần hơn bình thường, hay lượng nước tiểu nhiều hơn bình thường và nước tiểu có màu nhợt
* Số lần bạn đi tiểu ít hơn bình thường, hay lượng nước tiểu ít hơn bình thường, nước tiểu có màu tối.
* Nước tiểu của bạn có thể có máu
* Bạn có thể cảm thấy căng tức hay đi tiểu khó khăn
Dưới đây là môt tả của bệnh nhân:
“Khi bạn vào nhà vệ sinh nhiều hơn, bạn không thể đi tiểu hết. Và sau đó bạn vẫn cảm thấy giống như sự căng tức xuôi xuống dưới, thật sự là rất căng tức”
“Nước tiểu là thứ đầu tôi bắt đầu để ý đến. Sau đó tôi vào nhà vệ sinh thường xuyên hơn và khi vào nhà vệ sinh, tôi không thể đi tiểu. Bạn nghĩ rằng bạn cần phải đi tiểu, nhưng khi vào đến nhà vệ sinh: kết quả là chỉ hai hay ba giọt mà thôi”
“Tôi đi tiểu ra máu. Nước tiểu có màu rất sẫm giống như màu nho. Và khi tôi tới bệnh viện khám, ở đó họ lại nghĩ rằng tôi nói dối về màu của nước tiểu”
Triệu chứng 2: Phù
Những quả thận bị hỏng không loại bỏ chất lỏng dư thừa nữa, do vậy chất lỏng tích tụ trong cơ thể bạn khiến bạn bị phù ở chân, cổ chân, bàn chân, mặt và/hay tay
Mô tả của bệnh nhân
“tôi nhớ rằng tôi bị phù rất nhiều ở cổ chân. Cổ chân của tôi to đến nỗi tôi không thể đi giày nữa”
“Với chị tôi, tóc cô ấy bắt đầu rụng, cô ấy gầy đi, nhưng mặt thì thực sự là căng phồng lên, bạn biết đấy mọi thứ cứ giống như vậy cho đến khi cô ấy phát hiện ra rằng cô ấy mắc bệnh”
“Đi làm việc vào một buổi sáng, cổ chân tôi sưng phồng lên, thực sự là phồng to, và tôi rất rất mệt khi đi bộ đến bến đỗ xe bus. Và lúc đó tôi biết rằng tôi phải đi khám bác sĩ”
Triệu chứng 3: Mệt mỏi
Những quả thận khỏe mạnh tạo ra một hormon gọi là erythropoietin (đọc là a-rith'-ro-po'-uh-tin), hormon này thông báo cho cơ thể tạo ra các tế bào hồng cầu mang oxy. Khi thận bị hỏng (suy), chúng tạo ra ít erythropoietin hơn. Do vậy cơ thể bạn có ít các tế bào hồng cầu vận chuyển oxy hơn, nên các cơ và đầu óc của bạn mệt đi nhanh chóng. Tình trạng này được gọi là thiếu máu. Và bệnh này có thể điều trị được.
Mô tả của bệnh nhân
“tôi đột ngột cảm thấy mệt lả và không còn một chút tỉnh nào.”
“tôi đã ngủ rất nhiều. Tan sở tôi về nhà và lên giường đi ngủ ngay”
“Nó như thể lúc nào bạn cũng cực kì mệt mỏi. Bị mệt, và sức khỏe của bạn như bị chảy đi hết thậm chí khi bạn chẳng làm gì cả”
Triệu chứng 4: ngứa/phát ban ở da
Thận loại bỏ các chất thải ra khỏi mãu. Khi thận bị suy, sự tích tụ của các chất thải này trong máu của bạn có thể gây ra những trận ngứa ở mức độ nặng.
Mô tả của bệnh nhân:
“Đó không hẳn chỉ là một trận ngứa ở da, mà nó chạy dọc xương. Tôi đã phải dùng bàn chải mà đào lên da thịt. Lưng của tôi rớm máu do bị cào quá nhiều.”
“Da tôi đã bị rách. Tôi đã rất ngứa và gãi rất nhiều”
Triệu chứng 5: Vị kim loại ở trong miệng/hơi thở có mùi amoniac
Sự tích tụ của các chất thải trong máu (được gọi là chứng urê huyết) có thể khiến thức ăn có vị khác đi và khiến hơi thở có mùi. Bạn cũng có thể để ý thấy rằng bạn không thích ăn thịt nữa, hay bạn giảm cân bởi vì bạn cảm thấy không thích ăn
Mô tả của bệnh nhân
“Bạn sẽ cảm thấy có vị lợm ở trong mồm bạn, Gần giống như bạn vừa uống sắt vậy.”
“Bạn không còn thèm ăn như trước đây nữa”
“trước khi tôi bắt đầu lọc máu, tôi đã giảm khoảng 10 pound trọng lượng”
Triệu chứng 6: Buồn nôn và nôn
Sự tích tụ dữ dội của các chất thải trong máu (chứng ure huyết) cũng có thể gây nên tình trạng buồn nôn và nôn. Chán ăn có thể dẫn tới sút cân.
Mô tả của bệnh nhân
“tôi có rất nhiều cơn ngứa, và tôi bị nôn, nôn tất cả mọi thứ ra ngoài. Tôi không thể giữ bất cứ đồ ăn thức uống nào ở lại trong dạ dày cả.”
“khi tôi nôn, tôi không thể ăn, và lúc đó tôi đã có một thời gian khó khăn khi uống thuốc hạ huyết áp.”
Triệu chứng 7: Thở nông
Sự khó thở của bạn có thể có liên quan tới thận theo 2 cách sau, thứ nhất đó là chất lỏng dư thừa trong cơ thể của bạn tích tụ trong hai lá phổi. Và thứ hai, chứng thiếu máu (sự thiếu hụt các tế bào hồng cầu vận chuyển oxy) có thể khiến cơ thể bạn đói oxy và sinh ra chứng thở nông
Mô tả của bệnh nhân
“những lúc tôi thở nông, điều đó sẽ làm tôi sợ hãi. Tôi nghĩ có lẽ tôi có thể ngã hoặc sẽ có cái gì đó xảy ra với tôi, do vậy thường thì tôi đi tìm một chỗ để ngồi trong chốc lát”
“ Tôi không thể ngủ vào ban đêm, tôi không thể thở được, nó giống như tôi bị chết chìm. Và, tôi không thể bước đi đâu được nữa. Điều đó thật là tệ”
“bạn đi lên tầng trên để dọn phòng và lúc đó bạn hết thở được nữa, hay khi bạn làm việc bạn trở nên mệt mỏi và bạn phải ngưng công việc lại”
Triệu chứng 8: cảm thấy ớn lạnh
Thiếu máu có thể khiến bạn cảm thấy lúc nào cũng lanh, thậm chí khi bạn đang ở trong phòng có nhiệt độ ấm.
Mô tả của bệnh nhân:
“tôi để ý thấy rằng thỉnh thoảng, tôi thực sự lanh, lúc đó tôi có những cơn rùng mình”
“Đôi khi tôi trở nên rất rất lạnh. Thời tiết lúc đó có thể nóng, và tôi thì vẫn lạnh”
Triệu chứng 9: Hoa mắt chóng mặt và mất tập trung
Thiếu máu liên quan đến suy thận nghĩa là não của bạn sẽ không được cung cấp đủ oxy nữa. Điều này có thể dẫn tới các vấn đề về trí nhớ, gây ra sự mất tập trung, hoa mắt và chóng mặt.
Mô tả của bệnh nhân:
“Tôi nhớ là tôi đã đề cập với vợ tôi về trí nhớ của tôi rằng tôi không thể nhớ những gì tôi đã làm từ tuần trước, hay có thể là 2 hôm trước thôi. Tôi thực sự không thể tập trung, vì tôi thích chơi giải ô chữ và đọc nhiều, nhưng không thể tập trung được.”
“tôi đã luôn luôn mệt mỏi và hoa mắt chóng mặt.”
“tình trạng đó xấu tới độ, tôi đang làm việc, và thật đột ngột tôi hoa mắt chóng mặt. do vậy tôi đã nghĩ rằng có lẽ là huyết áp của tôi hay bệnh tiểu đường của tôi trở nên xấu đi. Đó là những gì mà tôi đã nghĩ”
Triệu chứng 10: đau chân/cạnh sườn.
Một số người mắc các bệnh về thận có thể bị đau ở lưng hay sườn điều này là do thận bị ảnh hưởng. Bệnh thận đa nang, có thể khiến các nang trong thận chứa đầy chất lỏng và to lên, và đôi khi thì gan, cũng có thể gây đau.
Mô tả của bệnh nhân:
“Khoảng 2 năm trước, tôi lúc nào cũng vào nhà vệ sinh, và phần thấp của lưng luôn luôn đau đớn, tôi tự hỏi vì sao lại có chuyện như vậy….các bác sĩ đã chuẩn đoán rắng đó là do các vấn đề ở thận”
“Và sau đó bạn phải thức dậy trong đêm, lúc đó bạn bị đau ở sườn và lưng, bạn không thể nhúc nhích được.”
“vào ban đêm, tôi hay bị đau vùng sườn. Nó còn tệ hơn là đau nhức do làm việc nặng.”

Xu thế hiện đại trong điều trị bệnh thận

Suy thận là vấn đề ngày càng trở nên phổ biến, có tính toàn cầu không chỉ với người làm y tế mà còn với cả cộng đồng. Bệnh thận thường là nguyên phát hoặc xuất hiện thứ phát. Trước đây là ở các bệnh do sỏi hay nhiễm khuẩn, sau này là các bệnh tim mạch, tăng huyết áp, đái tháo đường, bệnh chuyển hóa lipid, bệnh gút... Để phòng chống và điều trị được bệnh lý thận tiết niệu thì không chỉ ngăn chặn những bệnh gây ra tổn thương thận mà còn cần phát hiện sớm những tổn thương thận.
Để ngăn chặn sự tiến triển của bệnh thận trước hết phải làm sao để có thể phát hiện bệnh một cách sớm nhất.
Phát hiện bệnh thận sớm bằng cách nào?

Dựa vào hai chỉ số cơ bản nhất là huyết áp và albumin niệu qua đo huyết áp thường xuyên và xét nghiệm nước tiểu để tìm albumin niệu. Với người bệnh bình thường thì 6 tháng một lần nên xét nghiệm albumin niệu, nếu nó có biến loạn thì cần thiết phải làm xét nghiệm khác để đánh giá chức năng thận tiết niệu. Đối với tất cả những người có nguy cơ cao như tăng huyết áp, bệnh đái tháo đường, rối loạn chuyển hóa lipid, glucid hay người cao tuổi thì phải kiểm tra chức năng thận thường xuyên 3 tháng một lần.
Phân loại mức độ của suy thận

Trong giai đoạn đầu khi thận mới bị tổn thương, mức lọc cầu thận có thể bình thường hoặc tăng nhẹ trên 90 ml/ phút. Khi thận suy nhiều hơn, mức lọc cầu thận sẽ giảm dần và kèm theo những biến loạn lâm sàng và xét nghiệm khác. Chức năng thận suy nhẹ khi mức lọc cầu thận: 60 đến 89 ml/phút; suy vừa mức lọc cầu thận từ 30 đến 59 ml/phút; suy nặng mức lọc cầu thận từ 15 đến 29 ml/phút, và đến khi mức lọc cầu thận còn dưới 15 ml/ phút thì đó là suy thận rất nặng và bắt buộc phải điều trị thay thế lọc máu hoặc ghép thận.

Xu hướng hiện nay về điều trị bệnh thận
Thế kỉ XX, khi điều trị suy thận, người ta đặt song song cả vấn đề về điều trị bảo tồn, lọc máu tại bệnh viện, ghép thận. Nhưng từ những nghiên cứu mới sau này cộng thêm với sự phát triển kinh tế xã hội và lĩnh vực y tế thì từ năm 2000 trở về đây, xu hướng chung là làm thế nào điều trị dự phòng và kéo dài thời gian suy thận nhẹ và vừa, càng lâu càng tốt. Đối với bệnh nhân không thể điều trị kéo dài, cần điều trị sớm thì xu hướng ghép thận là tối ưu. Đối với vấn đề lọc máu là tăng cường tự lọc máu và giảm số lượng lọc máu tại bệnh viện. Tăng cường việc đào tạo cho bệnh nhân có thể nắm được tình trạng bệnh và có thể tự điều trị được, có thể tự lọc máu tại nhà.
Điều trị dự phòng sớm và duy trì mục tiêu điều trị

Hiện nay thầy thuốc cố gắng kéo dài thời gian điều trị bảo tồn cho người bệnh càng lâu càng tốt, từ khi tổn thương thận đến khi suy thận độ I, nhẹ nếu điều trị tốt có thể kéo dài 5 đến 10 năm, khi suy thận vừa đến nặng kéo dài 5 đến 10 năm. Như vậy nếu điều trị tốt có thể kéo dài thời gian sống của bệnh nhân không phải lọc máu tới 20-30 năm. Tư vấn và điều trị dự phòng bệnh nhân tốt sẽ giảm thiểu số lượng bệnh nhân phải lọc máu. Duy trì mục tiêu điều trị ở mức khống chế huyết áp dưới 130/80mmHg; Khống chế mức albumin niệu; thuốc sử dụng là ức chế men chuyển đổi angiotensin và ức chế phụ thể angidensin AT1.
Lọc máu hay ghép thận sớm khi có chỉ định thay thế

Thứ nhất là ghép thận với tất cả bệnh nhân có khả năng nếu có người cho. Đối với những người bệnh bắt đầu lọc máu thì nên được lọc máu sớm. Trước đây chúng ta chỉ định lọc máu khi mức lọc cầu thận dưới 10 ml/phút đối với bệnh nhân đái tháo đường, 8ml/phút đối với bệnh nhân không đái tháo đường. Nhưng ngày nay khi mức lọc cầu thận dưới 15ml/phút đã có chỉ định điều trị thay thế thận bao gồm ghép thận, lọc màng bụng, thận nhân tạo. Lọc máu sớm sẽ giúp chức năng thận còn lại duy trì cân bằng nội môi, tham gia các hoạt động nội tiết cũng như giảm các biến chứng lâu dài của người bệnh.

Tự lọc máu
Đối với bệnh nhân có điều kiện, có trình độ hiểu biết, bệnh nhân ở xa các trung tâm lớn thì phương pháp lựa chọn đầu tiên đó là lọc màng bụng hay thẩm phân phúc mạc. Trong lọc màng bụng hay thẩm phân phúc mạc thì ta có thể lựa chọn lọc màng bụng liên tục ngoại trú hay lọc màng bụng bằng máy. Hiện nay ở Việt Nam đã có 12 trung tâm tiến hành lọc màng bụng liên tục ngoại trú với hơn 900 bệnh nhân. Thứ hai là thận nhân tạo. Tốt nhất chúng ta lựa chọn tự thận nhân tạo bao gồm có lọc máu tại nhà. Phương án tối ưu là lọc máu hàng ngày, mỗi ngày 2h và 5 -7 ngày /tuần hoặc tối thiểu là 4h/lần, 3 đến 4 lần trong tuần. Còn đối với bệnh nhân không thể tự lọc máu được thì có thể lọc màng bụng hay thận nhân tạo tại bệnh viện hay tại nhà nhưng có sự giúp đỡ của đội ngũ nhân viên y tế. Với phương pháp tự lọc máu, không chỉ cải thiện được chất lượng cuộc sống, trả lại người bệnh cho cộng đồng mà về mặt y tế còn khống chế được huyết áp tốt hơn, sử dụng thuốc ít hơn, giảm biến chứng suy tim, giảm biến loạn về dinh dưỡng, tiêu hóa, thần kinh.

Các điều nên biết về bệnh thận

Uống quá nhiều rượu có thể gây suy thận

(SK&ĐS) - Theo một nghiên cứu của bác sĩ Thomas V. Perneger và cộng sự ở Trường ĐH Johns Hopkins, Baltimore, uống rượu vừa phải (dưới 2 chén/ngày) có thể có lợi cho sức khỏe, nhưng uống trên 2 chén/ngày có thể tăng nguy cơ suy thận. Để đánh giá mối liên quan giữa việc uống rượu và bệnh thận, các nhà nghiên cứu so sánh thói quen uống rượu của 716 bệnh nhân suy thận với nhóm chứng gồm 361 người không bị bệnh thận. Kết quả cho thấy: nguy cơ suy thận ở nhóm người uống hơn 2 loại đồ uống có cồn/ngày cao gấp 4 lần và nguy cơ sẽ giảm 9% nếu những người này thôi không uống như vậy nữa. Tuy các nhà nghiên cứu không chứng minh được việc uống rượu vừa phải là một lý do làm giảm nguy cơ suy thận, nhưng họ đoán đó là nhờ ảnh hưởng của rượu đối với mỡ máu và cục máu đông.
Trẻ dễ bị hư thận nặng do tùy tiện dùng thuốc Nam

(NLĐ) - Bác sĩ Trần Thị Mộng Hiệp, Trưởng khoa Nội tổng hợp 4 Bệnh viện Nhi Đồng 2 TP.HCM cho biết, hiện chưa có công trình nghiên cứu nào về tác hại của việc dùng thuốc Nam (không có nguồn gốc) để điều trị bệnh thận. Nhưng thực tế cho thấy, những trẻ từng dùng các loại thuốc này đều nhập viện trong tình trạng hư thận rất nặng. Trẻ hư thận thường có các triệu chứng như phù toàn thân, tiểu ít kèm theo một số thay đổi về sinh hóa (giảm đạm máu, tăng lipit máu, tiểu đạm). Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, các triệu chứng không rầm rộ mà lại âm thầm nên khó phát hiện. Ơ' giai đoạn đầu, nhiều trẻ chỉ bị sưng 2 mí mắt vào buổi sáng ngủ dậy, cha mẹ nghĩ là do ngủ nhiều. Một số trẻ bị phù, không kèm theo dấu hiệu khác nên gia đình tưởng lầm là lên cân. Hiện tượng tiểu ít, nước tiểu vàng đậm cũng ít được chú ý. Các bác sĩ tiết niệu khuyên cha mẹ nên để ý theo dõi nước tiểu của trẻ; khi phát hiện bất kỳ thay đổi nào (số lượng, tính chất, màu sắc) thì phải đưa trẻ đi xét nghiệm nước tiểu để phát hiện sớm bệnh hư thận nếu có.
Cẩn thận khi dùng thuốc hạ sốt - giảm đau

(TN) - Bản chất của những thuốc này là ức chế việc sản sinh Prostagladin nên nó cũng làm tăng tiết dịch vị, giảm tiết các chất nhờn để bảo vệ niêm mạc dạ dày và giảm lượng máu đến nuôi dưỡng lớp niêm mạc. Do vậy, thuốc dễ làm cho viêm loét dạ dày và nếu đã có tổn thương thì rất khó có khả năng hồi phục. Theo Cơ quan Lương thực và Dược liệu Hoa Kỳ (FDA), ở Mỹ mỗi năm có 2 - 4% số người dùng các thuốc giảm đau bị chảy máu dạ dày - ruột và 15% khác có chảy máu vi thể không nhìn thấy, chỉ phát hiện được qua xét nghiệm phân hay nội soi. Không chỉ tác động trên dạ dày, thuốc ức chế Prostagladin còn làm giảm lượng máu qua thận, giảm lọc gây phù ngoại vi và suy thận (0,09%), làm tăng huyết áp, dị ứng (0,11%), làm tăng men gan, gây bệnh trầm cảm ở nhiều người, tăng chảy máu các vết mổ (1,04%) và làm khởi phát cơn khó thở ở những người vốn có hen suyễn hay gây tắc nghẽn mạn tính ở phổi.
Hiểu biết về thận - tiết niệu

Hệ tiết niệu bao gồm hai thận, niệu quản, bàng quang và niệu đạo. Bình thường cơ thể có hai quả thận hình hạt đậu có 2 mặt: mặt trước lồi, mặt sau phẳng. Bờ trong có vùng rốn thận. Bờ ngoài lồi. Bề mặt thận trơn láng nhờ được bọc trong bao mỏng gọi là vỏ thận. Kích thước bình thường dài khoảng 12cm, rộng 6cm, dày 3cm. Trọng lượng thận: trung bình khoảng 150 gam ở nam giới, ở nữ giới trọng lượng thận nhỏ hơn chút ít khoảng 130 gam. Thận nằm sau phúc mạc, hai bên cột sống, ngay phía trước cơ thắt lưng.
Các chức năng sinh lý của thận được thực hiện thông qua 3 cơ chế chủ yếu: lọc máu ở thận, hấp thụ và bài tiết ở ống thận, sản xuất một số chất trung gian nưhư: Rênin, Erythoropoietin, Calcitonin, Prostagalandin...Như vậy thận có cả chức năng ngoại tiết và nội tiết.
Chức năng chính của thận là: tạo nước tiểu, qua đó duy trì sự hằng định của nội môi, quan trọng nhất là cân bằng nước và các chất điện giải, đồng thời đào thải các sản phẩm giảng hoà của cơ thể như: ure, creatinin, acid uric...
Một số bệnh liên quan đến thận
Phù
Phù là hiện tượng tăng dịch kẽ, ứ nước ở tổ chức dưới da. Phù chỉ có thể khu trú hoặc toàn thân với các mức độ nhẹ, vừa, nặng. Trong trường hợp phù nhẹ chỉ thấy nặng mặt, mí mắt hơi sưng. Trong trường hợp phù nhiều có thể phát hiện có nước ở màng bụng, màng phổi, màng tim, màng tinh hoàn.
Nguyên nhân: Là do tăng áp lực thuỷ tĩnh mao mạch, giảm áp lực keo trong lòng mạch, tăng thẩm tích mao mạch và giảm khả năng lưu thông bạch mạch.
Biểu hiện lâm sàng: dấu hiệu "lọ mực" là triệu chứng chính để phát hiện phù ở cẳng chân, mu chân. Để theo dõi phù cần biết cân nặng và lượng nước tiểu hàng ngày hoặc hàng tuần. Trong trường hợp cầu thận thượng gặp phù toàn thân
Điều trị: Người thầy thuốc sẽ chuẩn đoán nguyên nhân gây phù và phân biệt phù do thận với phù do suy tim, suy gan, suy dinh dưỡng, viêm bạch mạch, viêm tĩnh mạch, dị ứng. Chế độ ăn uống trong điều trị phù rất quan trọng. Kết hợp với điều trị nguyên nhân.
Rối loạn chức năng cương
Chứng rối loạn chức năng cương còn gọi là chứng bất lực, liệt dương là hiện tượng bệnh lý của dương vật không đạt sự cương cứng cần thiết để đảm bảo sinh hoạt tình dục bình thường.
Nguyên nhân: rối loạn chức năng cương là nguyên nhân của vô sinh nam đồng thời ảnh hưởng đến hạnh phúc gia đình và chất lượng cuộc sống. Việc chuẩn đoán nguyên nhân nhiều khi khó khăn vì có nhiều nguyên nhân phối hợp: sau vỡ xương chậu, trong bệnh đái tháo đường, do yếu tố tâm lý, do bệnh mạch máu ngoại biên, do tổn thương tuỷ sống.
Biện pháp điều trị: nội tiết tố nam, đặt prothèse dương vật, phục hồi mạch máu, tiêm vào vật hang các chất giãn mạch (papaverin, phentolamin, ptostagladin E1-Alprostadil) đơn thuần hay phối hợp. Ơ' nước ta các bài thuốc y học dân tộc bằng cây, con cũng có tác dụng.
Thận to
Là một triệu chứng thực thể được phát hiện ra qua thăm khám nhưng cũng có thể được người bệnh tự phát hiện thấy nếu mức độ to là đáng kể. Cần khai thác kỹ tiền sử gia đình, bản thân, về bệnh hệ tiết niệu của nưgười bệnh khi phát hiện thấy thận to.
Nguyên nhân:
Khối choán chỗ nh các nang (thường phát hiện bằng siêu âm, không kèm đau hay đái máu), khối u rắn (phát hiện bằng siêu âm, UIV + CT Scanner)
Thận đa nang: dựa vào tiền sử gia đình, 2 thận to, thǎm dò thấy thận to có nhiều nang và có thể có nang gan.
Nhiễm khuẩn, có thể không kèm tắc nghẽn đườg tiết niệu (viêm thận bể thận cấp hay viêm mủ bể thận, áp xe thận, hoại thư quanh thận) hoặc kèm theo tắc nghẽn đường tiết niệu (sỏi thận -tiết niệu, chít hẹp từ bên trong hoặc bên ngoài đường tiết niệu)
Thận to bù (nếu bên kia không có thận hoặc giảm chức năng)
Tổn thương mạch máu gây nhối máu thận hay tắc tĩnh mạch thận.
Các bệnh thận: bột thận, Luput, hội chứng thận hư... Chuẩn đoán xác định thận to dựa vào lâm sàng có dấu hiệu chạm thắt lưng và bập bềnh thận; cận lâm sàng dựa vào các phương pháp chuẩn đoán hình ánh
Cần phân biệt thận to với:
Gan to - Lách to - Khối u ổ bụng - U nang buồng trứng (ở nữ)
Người bệnh cần được phát hiện nguyên nân gây bệnh sớm, đặc biệt là khi có tắc nghẽn đường tiết niệu kèm nhiễm khuẩn hoặc khi nghi có khối u thận-tiêt niệu để có thể được điều trị kịp thời và hiệu quả.

Viêm thận ,bể thận cấp
Các bệnh lý viêm nhiễm nói chung và viêm thận, bể thận cấp nói riêng thường được điều trị tốt bằng nội khoa. Tuy nhiên sự tuân thủ không đầy đủ chỉ định của bác sĩ hoặc trì hoãn quá trình điều trị có thể làm bệnh ngày một nặng hơn và dẫn tới nhiều biến chứng nguy hiểm tới tính mạng.
Bệnh thường biểu hiện rầm rộ

Viêm thận cấp.
Các dấu hiệu nhiễm khuẩn xuất hiện rầm rộ. Bệnh nhân đột ngột sốt cao, rét run, thể trạng suy sụp nhanh chóng, môi khô nứt nẻ, lưỡi bẩn... Nếu sử dụng thuốc hạ sốt thì giảm đi trong một khoảng thời gian ngắn (một vài giờ) sau đó cơn sốt lại bùng phát trở lại. Kèm theo sốt, bệnh nhân cảm thấy đau ở vùng sườn lưng, có thể đau một bên hoặc cả hai bên, thường là đau âm ỉ nhưng cũng có khi có những cơn đau dữ dội như dao đâm, cơn đau lan xuống vùng bàng quang, thậm chí lan ra cả bộ phận sinh dục ngoài. Vỗ vùng hố sườn lưng bệnh nhân có phản ứng, đau, tức, rất có giá trị nhất là khi đau một bên.
Hội chứng bàng quang thường có nhưng không phải trong tất cả mọi trường hợp như đái buốt, cảm giác nóng rát, đái rắt (mót đái, phải rặn liên tục), đái đục, cũng có trường hợp đái ra máu. Trong máu, bạch cầu tăng, đa nhân trung tính tăng, có thể có nhiễm khuẩn huyết. Khi urê, creatinin máu tăng cao là có suy thận cấp hoặc đợt cấp của suy thận mạn.
Ngoài ra một số bệnh nhân còn có biểu hiện chán ăn, ăn không ngon, buồn nôn, nôn, bụng trướng, cơ thể mệt mỏi rã rời. Bệnh thường tiến triển tốt và hồi phục hoàn toàn nếu được điều trị sớm, đúng thuốc sau vài ngày sẽ cắt được cơn sốt, nước tiểu trong trở lại sau 1- 2 tuần. Nhưng nếu điều trị muộn hoặc không đúng thì bệnh dễ tái phát, chuyển thành mạn tính, suy thận, hoại tử núm thận, ứ mủ thận, nhiễm khuẩn huyết, tăng huyết áp... những biến chứng này có thể làm bệnh nhân tử vong.
Các trực khuẩn gram (-) là nguyên nhân chính

Nguyên nhân là do vi khuẩn, đa số do trực khuẩn gram (-) như nhiễm Secheria Coli, trực khuẩn mủ xanh (pseudomonas Aerugnosa). Cũng có trường hợp nhiễm tụ cầu vàng gây bệnh (S. Aureus). Các vi khuẩn này thường xâm nhập vào đài bể thận theo đường tiết niệu, sinh dục, bắt đầu từ bộ phận sinh dục ngoài, niệu đạo, bàng quang, niệu quản rồi đến đài, bể thận. Nhiễm khuẩn đa số là theo đường ngược dòng gây viêm ở đài bể thận rồi vào tổ chức kẽ của thận. Cũng có thể đi theo đường máu hoặc bạch huyết vào thận. Tình trạng viêm nhiễm cấp tính này cũng có thể do vi khuẩn theo đường máu, bạch huyết xâm nhập vào thận.
Những yếu tố như sỏi thận, sỏi tiết niệu, viêm hoặc u tuyến tiền liệt, giao hợp không bảo đảm vệ sinh, phụ nữ có thai, đặt sonde bàng quang... đây là những điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn xâm nhập gây ra tình trạng viêm nhiễm cấp tính. Cần thăm trực tràng, đặc biệt ở người cao tuổi, để phát hiện u tuyến tiền liệt. Phải chụp thận, thường chụp thận tĩnh mạch (UIV), siêu âm thận để phát hiện sỏi thận, dị dạng, khối u, lao thận, viêm bể thận mạn, hoặc chụp bàng quang để phát hiện hiện tượng trào ngược nước tiểu. Cần thiết cấy vi khuẩn và xét nghiệm kháng sinh đồ.
Phòng và điều trị bệnh thế nào cho hiệu quả?

Đây là bệnh do nhiễm khuẩn do đó vệ sinh thân thể, nhất là vệ sinh ở bộ phận sinh dục rất quan trọng. Thói quen tắm ao hồ, sông suối của nhiều người ở các vùng nông thôn rất dễ nhiễm khuẩn ở đường sinh dục, khi đó vi khuẩn sẽ ngược dòng tiến sâu vào bàng quang, tiết niệu, thận. Cần có thói quen vệ sinh trước và sau khi quan hệ tình dục, phụ nữ có thai càng đặc biệt chú ý vệ sinh cơ thể vì khi có thai những thay đổi ở môi trường âm đạo rất dễ bị nhiễm khuẩn, nhiễm nấm. Đối với các bệnh viêm nhiễm ở đường tiết niệu cần được điều trị triệt để.
Chính vì các biểu hiện của viêm thận, bể thận cấp rất đa dạng nên dễ làm nhầm lẫn với những triệu chứng viêm nhiễm khác. Do đó muốn chẩn đoán chính xác bệnh phải tiến hành các xét nghiệm về công thức máu, hóa sinh máu, nước tiểu, siêu âm bụng, chụp Xquang, hoặc chụp cắt lớp bụng.
Tiến triển thường là tốt nếu điều trị kháng sinh đúng và đủ liều, các triệu chứng lâm sàng thường khỏi nhanh, nhiệt độ giảm, tiểu tiện nhanh trở lại bình thường (nước tiểu trở lại bình thường sau 1 đến 2 tuần), bạch cầu niệu giảm, bạch cầu máu cũng giảm. Đây là bệnh do vi khuẩn gây ra nên kháng sinh là biện pháp quan trọng được sử dụng điều trị, đặc biệt là các kháng sinh có tác dụng tốt đối với vi khuẩn gram (-). Điều trị triệu chứng theo từng trường hợp, nếu sốt cao, đau phải dùng thuốc hạ sốt, thuốc giảm đau, đặc biệt phải tìm ra nguyên nhân gây bệnh để điều trị triệt để như sỏi thận, sỏi tiết niệu, các bệnh viêm nhiễm ở bàng quang, tiền liệt tuyến, âm đạo...
Nếu điều trị không đúng bệnh sẽ tái phát nhiều lần, chuyển thành mạn tính, tăng huyết áp, suy thận, bệnh nhân có thể tử vong do nhiễm khuẩn huyết, sốc nhiễm khuẩn hoặc hội chứng urê máu cao.

Chế độ ăn cho bệnh nhân thận

Đối với bệnh nhân viêm cầu thận cấp:

Những thực phẩm nên dùng:

Chất bột đường: có nguồn gốc từ các loại đường, mật ong, khoai sọ, khoai lang, miến dong, bột sắn dây.

Chất béo: nên sử dụng 30-35 g/ngày.

Chất đạm: giảm đạm tùy thuộc vào cân nặng. Nên sử dụng đạm có nguồn gốc từ động vật như thịt nạc, cá, sữa, trứng.

Các loại rau quả: nếu trong giai đoạn vô niệu thì không được ăn rau quả. Khi tiểu được nhiều thì mới ăn như bình thường.

Thực phẩm không nên dùng hoặc hạn chế:
Các loại ngũ cốc nhiều đạm như gạo, mì... hoặc chỉ ăn dưới 150 g/ngày.
Không nên sử dụng các loại chất béo có nguồn gốc động vật.
Không nên sử dụng nhiều chất đạm có nguồn gốc thực vật.
Cần theo dõi lượng nước tiểu để sử dụng lượng rau quả hợp lý.
Số lượng thực phẩm nên dùng trong một ngày: Gạo tẻ: 100-150 g. Khoai sọ, khoai lang 200-300 g. Thịt nạc hoặc cá: 50-100 g. Trứng vịt, gà:1 quả, tuần ăn 2-3 lần. Dầu ăn: 20-30 g. Rau: 200-300 g. Quả: 200-300 g. Dùng lượng nước bằng lượng nước tiểu hàng ngày cộng thêm 300-500ml. Chú ý trong giai đoạn phù phải Ăn nhạt hoàn toàn, khi hết phù có thể ăn hai thìa cà phê nước mắm mỗi ngày.

Đối với bệnh nhân viêm cầu thận có hội chứng thận hư, chưa suy thận:

Thực phẩm nên dùng:
Các loại gạo, mì, khoai sắn.
Chỉ nên sử dụng chất béo 20-25 g/ngày, 2/3 là dầu thực vật.
Ăn thịt nạc, cá, sữa, trứng, đậu đỗ. Lượng đạm 1,5-2 g/kg/ngày. Nên sử dụng sữa bột tách bơ để tăng cường đạm và calci.
Ăn rau quả như bình thường. Nếu tiểu ít thì cần hạn chế.

Thực phẩm cần tránh hoặc hạn chế:
Không sử dụng các loại chất béo có nguồn gốc động vật.
Không nên sử dụng các phủ tạng động vật như tim, óc, thận. Hạn chế trứng, chỉ ăn 1-2 quả/tuần.
Số lượng thực phẩm nên dùng trong một ngày: Gạo tẻ:300-350 g. Thịt nạc hoặc cá 200 g hoặc 300 g đậu phụ. Dầu ăn 10-15 g. Rau 300-400 g. Quả 200-300 g. Muối 2 g.

Đối với bệnh nhân suy thận:

Thực phẩm nên dùng:
Các loại đường, mật ong, khoai sọ, khoai lang, miến dong, bột sắn dây.
Dầu, mỡ, bơ. Nên sử dụng 35-40 g/ngày, 2/3 là thực vật.
Giảm đạm; ăn thịt nạc, cá 50 g/ngày; sữa 100-200 ml/ngày; Trứng gà, vịt: 2-3 quả/tuần.
Ăn loại rau quả ít đạm, nên dùng loại ngọt, hàm lượng kali thấp.
Thực phẩm không nên dùng:
Hạn chế gạo, mì, chỉ nên ăn dưới 150 g/ngày.
Ăn ít mỡ, tránh các loại phủ tạng động vật.
Không nên ăn đậu, đỗ, lạc, vừng.
Tránh các loại có vị chua: Rau ngót, mồng tơi, đay.
Số lượng thực phẩm nên dùng trong một ngày: Gạo tẻ 50-100 g. Khoai sọ, khoai lang 200-300 g. Miến dong 100-120 g. Bột sắn, bột đao 20 g. Đường kính 30-50 g. Sữa tươi 100-200 ml. Thịt nạc hoặc cá 50 g. Trứng vịt, gà 1 quả, tuần ăn: 2-3 lần. Dầu ăn 20-30 g. Rau 200-300 g. Quả chín 200-300 g.

Popular Posts