Thursday, October 22, 2009

Bệnh nấm móng

A. Bệnh nấm móng

1. Định nghĩa:
Là bệnh mãn tính và thường gây biến dạng móng.
Sự nhiễm nấm ở móng thường không theo qui luật đồng dạng hay đối xứng và thường được thấy bị nhiễm ở một hoặc hai móng.
Nguyên nhân gây bệnh:
- Nấm dermatophyte.
- Nấm Candida.
- Nấm mốc (Seopulariopsis, Hendersonula...)

2. Các biểu hiện trên lâm sàng:
2.1. Nhiễm ở phần bên và phần xa dưới móng (DLSO: Distal and lateral subungual onychomycosis), là dạng phổ biến nhất gây loạn dưỡng móng, thường do vi nấm dermatophyte, đôi khi cũng nhiễm thêm nấm mốc (mould) thứ phát.
2.2. Trắng trên bề mặt móng (SWO: Supperficial white onychomycosis), là dạng đặc trưng của nhiễm dermatophyte do Trichophyton mentagrophytes, thường không phổ biến.
2.3. Ở phần gốc dưới móng (PSO: Proximal subungual onychomycosis). Xuất phát từ phần gần của móng và thường là thứ phát của viêm quanh móng mãn do các chủng nấm men Candida.
2.4. Loạn dưỡng toàn móng (TDO: Total dystrophic onychomycosis), là dạng sau cùng của loạn dưỡng móng khi toàn bộ móng bị tiêu hủy do hậu quả của ba dạng nhiễm trên.

3. Các loại thuớc điều trị hiện nay:

3.1. Thuốc bôi tại chỗ: thường được sử dụng theo kinh nghiệm (dạng kem, dung dịch, sơn):
- Nhóm azole (ketoconazole, clotrimazole, miconazole, sulconazole, oxiconazole, econazole).
- Ciclopirox Olamine.
- Amorolfine (loceryl).
- Nhóm allylamine (natifine, terbinafine).
- Nhóm các acid (salicylic, undecylenic).
- Nhóm polyenes (nystatin).
Tuy nhiên, đa số những chế phẩm trên không có mấy hiệu quả trên nấm móng, ngay cả khi sử dụng phối hợp với rút móng, do hạn chế tính thấm của tá dược vào móng. Do đó, điều trị bằng đường uống hiện được lựa chọn nhiều hơn.

3.2. Thuốc uống:
- Itraconazole:
· Liên tục: 200mg/ngày, trong 6 – 12 tuần
· Điều trị từng đợt: 400mg/ngày, trong tuần đầu/tháng trong vòng 2 – 3 tháng.
- Terbinafine: 250mg/ngày (6 – 12 tuần).
- Fluconazole: 150 – 400mg mỗi tuần, từ 6 – 12 tháng.
- Griseofulvin: 0,5 – 1g/ngày, (6 – 12 tháng).

B. Cách phân loại mới định huớng điều trị nấm móng

1. Tác giả:
BS. Alexey Sergeev - Tổng Thư ký của Hội Vi nấm học - Học viên Quốc gia Nga.

2. Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị:

2.1. Biểu hiện lâm sàng của tổn thương:
Bệnh nấm móng có thể có các biểu hiện rất khác nhau. Dạng nhiễm lúc đầu thường nhẹ, ảnh hưởng ít đến nền móng, có thể điều trị tại chỗ dễ dàng. Các dạng lan rộng hơn, thường đòi hỏi trị liệu thuốc uống mới cho hiệu quả và duy trì được kết quả. Có vài trường hợp, đôi khi trị liệu đơn độc đường uống cũng không đủ hiệu quả.

2.2. Độ rộng của tổn thương:
- Vị trí nhiễm nấm cách mầm móng (matrix) bao xa?
- Thời gian để tổn thương đi ra khỏi móng?

2.3. Mức độ dày sừng bên dưới móng:
- Thuốc bôi có đến được giường móng (nail bed) không?
- Thuốc kháng nấm uống có đến được bản móng(nail plate) không?

2.4. Vị trí móng bị nấm:
Tốc độ phát triển của móng khác nhau cũng ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Các móng chân thường phát triển chậm hơn các móng tay. Móng tay cái và chân cái phát triển chậm hơn móng các ngón còn lại. Sự phát triển của móng chậm hơn sẽ đòi hỏi thời gian điều trị dài hơn.

2.5. Tuổi:
Tốc độ phát triển của móng giảm theo tuổi.

3: Liệu pháp điều trị được đề nghị theo trị số SCIO:

Được tóm tắt như sau:
1 - 3: Điều trị tại chỗ: loại bỏ phần móng nhiễm bệnh (cắt hoặc cạo). Dùng thuốc bôi tại chỗ cho đến khi móng khỏe mọc trở lại.
3 - 6: Điều trị tại chỗ với tỷ lệ thành công thấp, còn tùy thuộc vào tốc độ phát triển của móng. Nên điều trị đường uống với những móng mọc chậm hoặc dạng nhiễm nấm phần gần của móng.
6 - 9: Điều trị bằng đường uống. Dùng phác đồ điều trị cho nấm móng tay. (Vd: itraconazole 2 đợt: 200mg x 2lần/ngày, trong 1 tuần/tháng).
9 - 12: Điều trị bằng đường uống. Dùng phác đồ điều trị cho nấm móng chân (Vd: itraconazole 3 đợt: 200mg x 2lần/ngày, trong 1 tuần/tháng).
12 - 16: Điều trị đường uống với liệu trình kéo dài thêm. (Vd: itraconazole 4-5 đợt: 200mg x 2lần/ngày, trong 1 tuần/tháng).
16 – 20: Điều trị đường uống phối hợp với tại chỗ. Có thể dùng thêm thuốc tiêu sừng tương ứng.
20 – 30: Xem xét rút móng (vd: đắp bột urea), tiếp tục điều trị với thuốc uống.

Bệnh nấm lang ben

Chẩn đoán nấm lang ben dựa vào.

- Vị trí: cổ và cánh tay, ngực, lưng. Chủ yếu 1/2 phía trên.

- Tổn thương cở bản: Dát trắng ( có khi dát hồng hoặc hơi nâu, thẫm màu ) như bèo tấm hình tròn vài mm đường kính, khu trú lỗ chân lông dần dần liên kết với nhau thành màng lớn, hình vằn vèo như bản đồ, 10-20-30 cm đường kính.

Nhìn kỹ thấy có giới hạn rõ hơi gờ cao trên mặt da, cao hơi bong ít vảy cám ( khi đi nắng ửng đỏ, gồ cao, ngứa râm ran).

- TC cơ năng: Ngứa râm ran sau khi đi nắng hay ngồi chỗ nóng ra mồ hôi.

- Soi cấy nấm dương tính (khó làm).

2. Chẩn đoán phân biệt

- Phong vô định dát trắng, mất cảm giác ,teo cơ đầu chi, thần kinh trụ, hông kheo ngoài có khi sưng to.

Tìm trực khuẩn Hansen.

- Vẩy phán hồng Gibert : ở 1/2 người phía trên, đám đỏ hồng to nhỏ khác nhau, đám mẹ 2-4 cách mạng, các đám con 5mm-1cm màu hồng, vàng nghệ giới hạn rõ, bờ có diềm vẩy, giữa xu hướng hơi hõm, nhăn.

- Bạch biến (Vitiligo)

Dát màu trắng hồng, nhẵn 1-5-7 cm đường kính, một hoặc vài đám ở mặt, thân mình hoặc tay chân, xung quanh rìa đám hơi thâm ( tăng nhiễm sắc).

3. Điều trị

Bôi một trong các thuốc sau:

  • Sáng cồn ASA. Chiều mỡ Benzosali. 15-20 ngày.
  • Hoặc Mỡ Clotrimazol 1% 2 lần /ngày trong 20 ngày.
  • Kem Lamisil bôi trong 1 lần từ 1-2 tuần.
  • Uống Ketoconazol 200mg 2 viên / ngày x2 -4 tuần ( Nizoral).

Bệnh ghẻ


1. Căn nguyên.

1. Căn nguyên.

- Ký sinh trùng ghẻ(Scaopte Scabiei hominis)

- KST ghẻ đào hang ở lớp sừng, đẻ trứng qua chu kỳ 3 ngày thành KST ghẻ.

- Sinh sản nhanh trong điều kiện thuận lợi sau 3 tháng một KST ghẻ cái có thể sinh sản ra một dòng họ 150 triệu con.

2. Cách lây truyền:

Lây qua ngủ chung, quần áo, chăn chiếu.

3. Chẩn đoán bệnh ghẻ giản đơn.

* Có tổn thương đặc hiệu ở vị trí đặc biệt.

Vị trí: kẽ ngón tay, ngấn cổ tay, cùi tay, bờ trước nách, quanh rốn, mông chân sinh dục ngoài ( gần 100% nam giới bị ghẻ có tổn thương ở quy đầu thân dương vật).

* Tổn thương cơ bản: mụn nước, đường hang.

Đường hang nằm ngoằn nghèo hình chữ chi màu trắng xám dài vài cm đầu đường hang là mụn nước 1-2mm, KST ghẻ thường cư trú ở đây.

* Tổn thương phụ ( thứ phát do ngứa gãi tạo thành vết gãi, vết xước da, vết trợt vẩy tiết, sẹo thẫm màu ,bạc màu.

*Ngứa nhiều về đêm.

* Dịch tễ có yếu tố lay lan trong tập thể gia đình.

* Nhể, khêu bắt được KST ghẻ hay trứng ghẻ.

4. Chẩn đoán ghẻ nhiễm khuẩn.

Ghẻ nhiễm khuẩn là ghẻ giản đơn bị bội nhiễm nên có thêm mụn mủ.

(Như vậy trườc hết cần chẩn đoán đó là một trường hợp ghẻ).

5. Chẩn đoán ghẻ viêm da hoá.

Trước hết cần khẳng định là một trường hợp ghẻ ( 5 yếu tố chẩn đoán ghẻ giản đơn) cộng thêm đám Cieem da hoá thường ở vùng da mỏng, (mặt trong hai đùi) do cào gãi chà xát bằng dao, que, móng tay, đám viêm da đỏ viêm 5 -10-15cm đường kính, trên nền đỏ rải rác có mụn nước , vết trợt kho hoặc vẩn dịch, ngứa.

Đam viêm da khôngđược xử trí tốt lâu ngày dẫn đến eczema hoá trên nền đỏ viêm có chi chít mụn nước đùi từ dưới lên, đám tổn thương chảy dịch trong nhiều ngày.

6. Chẩn đoán phân biệt

- Sẩn ngứa do côn trùng

- Viêm da dị ứng cỏ cây, nươc suối, hoá chất.

- Viêm da mủ.

7. Điều trị

Nguyên tắc:

- Phát hiện sớm, điều trị sớm tránh biến chứng.

- Điều trị cùng một lúc tất cả người có bệnh và người liên quan.

- Boio thuốc vào buổi tối, bôi kiểu quang dầu, bôi 3 ngày liên mới tắm giặt thay quần áo.

(1 Lớp mỏng từ cổ đến chân( buổi tối KST bò ra khỏi hang) )

Tại chỗ: dùng một trong các thuốc ghẻ sau:

- Dầu DEP ( diethylphytalat).

- Mỡ diêm sinh 10% cho trẻ em, 30 % cho người lớn.

- Dầu Benzyl Bezoat 33% rất tốt, dung dịch kem Pemethirn 1%.

- Kem Eurax trị ghẻ và sẩn ngứa.

- Dung dịch hoặc kem Kwell rất tốt chỉ cần bôi 1-2 lần là khỏi.

- Phương pháp Demianovitch.

Bôi dụng dịch Hyposulfit Natri 10% sau 3 phút bôi tiếp.

Dung dịch axit Clohydric 6% xảy ra phản ứng hoá học làm giải phóng diêm sinh mới có tác dụng trị ghẻ.

- Phương pháp Diakova:

Xà phòng giặt 50g

bột diêm sinh 125 g

nước cất 350 ml

Bôi ngày 2 lần

- Licơ Wenming ( vôi tôi, diêm sinh nấu trong nước sôi) thuốc này dễ gây viêm da).

- Với ghẻ nhiễm khuẩn ngoài thuốc bôi điều trị ghẻ cho bôi thêm thuốc màu (dung dịch xanh metilen 1% dung dịch thuốc tím metin 1%) vào các mụn mủ , vết trợt).

- Với ghẻ viêm da hoá vùng viên da bôi hồ nước giai đoạn đầu mỡ corticoid giai đoạn sau vẫn phải điều trị ghẻ ( là nguyên nhân gây viêm da).

Thuốc toàn thân:

Chống ngứa: Kháng Histamin tổng hợp như Chlopheniramin 4mg 2 viêm /ngày, Trưa 1 viên, tối 1 viên.

Vitamin c, B1 Nếu là ghẻ nhiễm khuẩn cho thêm 1 đợt kháng sinh Ampixilin 500mg 3 viêm / ngày x 7 ngày.

Đông y: tắm lá đắng ( ít tác dụng) Dầu hạt máu chó.

Eczema

Eczema cấp tính: Đám máu viêm đỏ vài mm đến 10-20cm. Mụn nước nhỏ kín khắp bề mặt chặt,
chẩy dịch.

E bán cấp: Đám mảng giảm viêm lên da non. Màu hồng bóng

Eczema mãn: Đám mảng thâm nền cứng cộm xù xì

A. Chẩn đoán eczema

1. Vị trí: bất kỳ kể vàng da nào cũng có thể bị eczema.

2. Tổn thương cơ bản.

Đám đỏ vài cm đường kính đến 10-20 cách mạng, đường kính giới hạn không rõ, nề nhẹ. Trên bề mặt đám đỏ có mụn nước có đặc điểm sau:

- Mụn nước nhỏ bằng đầy tăm đầu kim.

- Nông, tư vỡ.

- San sát bên nhau, chi chít khắp bề mặt thương tổn.

- Đùn từ dưới lện hết lớp này đến lớp khác.

- Mụn nước vỡ thành điểm chợt đỏ (giếng eczema) nhiều điểm chợt liên kế thành đám chợt.

Chợt chảy dịch là eczema cấp, nếu bội nhiễm có mủ vẩy tiết.

- Eczema bán cấp: đám tổn thương giảm giêm khô dần, lên da con.

- Eczema mãn liken hoá: do ngứa gãi bị bệnh lâu ngày, da dầy côm thâm màu, hằn da nổi rõ, bề mựt cứng cộm, thô ráp.

3. Cơ năng: Ngứa

4. Tính chất: Tiến triển mãn tính hay tái phát nhiều tháng, nhiều năm, tính chất không khỏi.

5.Giải phẫu bệnh lý da: có hiện tượng xốp bào, (Spongiosis) tiền đề hình thành mụn nước.

B Chẩn đoán thể eczema.

Trước hết chẩn đoán đó là một eczema theo các yêu tố nói trên, sau đó dựa vào đặc điểm của từng eczema.

1. Eczema vi khuẩn.

- Thường bị ở cẳng chân 1 bên hay2 bên.

- Sau vết xây xước da, vết công trùng đốt sau đó lan rộng dần.

Mụn nước, chảy dịch mủ, vẩy tiết.

- Có kiểu vệ tinh ( chóc , nhọt quanh đám eczema).

- Có thể có ban thứ phát ở mặt, thân, ,mình, tay chân, các đám đỏ ngứa lẩm mẫn mụn nước.

2. Eczema tiếp xúc.

- Vùng hở: ( mặt, 2 tay, 2 chân) có khi in hình vật tiếp xúc (quai dép...)

- Viêm đỏ mạnh, nền, nền có mụn nước có khi có bọng nước.

- Ngừng tiếp xúc bệnh giảm, tiếp xúc lại, lại tái phát.

-Thử ứng test da với dị nguyên nghi ngờ (+)

- Dị nguyên thường là các chất hoá học trong công nghiệp, sinh hoạt như hoá chất, cao su, xăng dầu, mỡ, chất điểm tang, xi măng, crôm,.....

3. Eczema trẻ sơ sinh: từ 2 tháng tuổi đến 2 tuổi.

Ở vùng má trán có đám đỏ, hình mong ngựa sau lan ra đầu, thân mình đỏ viêm , nhiễm mụn nước, chảy nước mạnh, chợt đỏ, mụn, vẩy tiết , cấp tính, ngứa nhiều.

Có khi kèm rối loạn tiêu hoá ỉa lỏng tiền sử gia đình có người bị eczema.

- eczema trẻ em 2-12 tuổi.

- Biểu hiện bán cấp mãn tính có lúc chợt chảy nước, sau khô dần bắt đầu liken hoá.

- eczema thể địa chính cống từ 12 tuổi trở lên.

Vị trí đối xứng 2 bên nách, nếp, nếp khuỷ tay, nếp kheo chân, 2 cổ chân, mặt trước cẳng chân.

Tổn thương tính chất liken hoá, dày cộm, cứng,thâm màu, bề mặt có sẩn, có khi có giai đoạn vẫn chảy dịch.

Ngứa nhiều, tiến triển mãn tính.

4. Eczema da đầu .

Vị trí vùng da đầu mặt, đầu, da ức, vùng liêm bả.

Đám đỏ,nền hơi nề, hơi cộm, có vẩy mỡ ( riêng eczema da dầu khô, không nhìn thấy mụn nước, nhưng vẽ vi thể có mụn nước.).

C. Điều trị eczema

1. Eczema cấp: Viêm đỏ, chợt, chay dịch, có mủ, vẩy tiết.

- Tại chỗ: rửa ngâm, đắp gạc dung dịch Rivanol 1% hạc dụng dịch nitrat bạc 0,25% hoặc dung dịch berbenri 1% 1-3 ngày đầu. Sau đó bôi thuốc màudung dịch tính Metin 1% dung dịch xanh Metilen 1%, dung dịch Milian hoặc bôi hồ nước.

- Toàn thân.

Kháng sinh chống bội nhiễm Ampxilin 0,25 4-6 viên / ngày/ x 5-7 ngày chống dị ứng chống ngứa.

Chlopheniramin 4mg 2 viên ngày hoặc Histalong 10mg 1 viên / ngày.

Vitamin C 0,10 10Viên /ngày.

Nếu cần mà không có chống chỉ định có thể cho 1 đợt Prednisolon 5mg 4 viên / ngày 3/4 ngày rồi giảm liều 2/ viên / ngày x 7 ngày rồi ngừng.

- Chống cào, gãi chà xát.

2. Eczema bán cấp:

Giảm viêm giảm chảy nước, bắt đầu khô, lên da non Bôi mỡ Cocticoit + kháng sinh.

Như: mỡ Synalar - Neomycin

Mỡ Celesytodezem - Neomycin.

Thuốc toàn thân.

Chống ngứa chống dị ứng.

Chlophepniramin 4 mg 2 viên / ngày.

Hoặc Histalnog 10mg 10 viên / ngày.

3. Eczema mãn liken hoá.

Đám tổn thương thâm màu, cứng cộm liken hoá, xù xì thô ráp.

bôi một trong các thuốc sau:

Goudrar, Coaltar: tan nhiễm cuộn.

Mỡ corticoids: mỡ Flucinar, mỡ Diprpsali mỡ Demovate, mỡ betnvate.

Uống: kháng Histamin tổng hợp.

Vitamin C1g/ ngày.

Nếu cần và không có chống chỉ định cho một đợt Prednisolon.

Một số hình ảnh tổn thương thường gặp :









Wednesday, October 21, 2009

Bệnh Mề Đay

Vị trí: đầu mặt, thân hình, tay chân, rải rác nhiều nơi.

Tổn thương cơ bản

Là sẩn phù (sẩn mề đay) : màu hồng hay trắng như màu da, gồ cao, lỗ chân lông dãn rộng, kích thước sẩn vài mm 1-2 cách mạng.

Có khi nhiều sẩn liên kết với nhau thành mảng vằn vèo như bản đồ:

Xuất hiện đột ngột,; biến đi nhanh chóng trong vòng một vài giời- một vài ngày, không để lại vết tích gì trên da.

Nếu mọc ở vùng da lỏng lẻo như mi mắt, da bìu thì lan to nhanh.

Triệu chứng cơ năng:

Ngứa dữ dội, dấm dứt:

Có khi kèm đau bụng, ỉa lỏng, khó thở ( do ban, ọc ở đường hô hấp).

Tiến triển từng đợt vài ngày, có khi tái phát dai dẳng hàng tháng.

Căn nguyên :

+ Thường do dị ứng, giải phóng Histamin, Serotomin. Thể đia dị ứng IgE tăng.

+ Cây cỏ, côn trùng lông súc vật, phấn hoa.

+ Hoá chất

+ Thuốc men: Sulfamid, aspirin, penixilin.

+ Thức ăn- tôm cua cá, ốc (hải sản).

+ Do lạnh: Nước lạnh, gió lạnh, mưa lạnh.

+ Không rõ nguyên nhân.

Điều trị:

- Tại chỗ : Bôi hồ nước, dầu kẽm oxide kẽm

+ Bột Ialc menthol 1%.

+ Mỡ Corticoid: Flucinar.

- Toàn thân:

+ Kháng sinh Histamin tổng hợp

+ Chlopheniramin 2-4 viên / ngày.

+ Vitamin C.

+ Clomacanxi 0,50 1 ống tĩnh mạch chậm.

+ Có thể cho dùng một đợt Corticoid nếu không có chống chỉ định:

. Nặng tiêm truyền

. Vừa, nhẹ dùng loại uống ( clerton hoặc Prednisolon)

. Cimetidin 200mg 3-4 viên /ngày.

Bệnh ghẻ phỏng ở trẻ em

Khác với bệnh ghẻ ngứa do con ghẻ, bệnh ghẻ phỏng là bệnh nhiễm trùng da do vi khuẩn hình cầu gây ra.

Ghẻ phỏng (GP) là bệnh rất dễ lây, không chỉ lây từ vùng da này đến vùng da khác trên cùng một người bệnh mà còn lây từ người nọ sang người kia. Bệnh GP thường gặp ở trẻ em và xuất hiện nhiều trong mùa nóng bức có khí hậu ẩm.

Nguồn lây nhiễm

Vi khuẩn gây bệnh GP có từ nhiều nguồn khác nhau. Móng tay dài và dơ dính bám cáu ghét đất là nơi cho vi khuẩn trú ngụ và từ đó bệnh theo các vết cào gây xây xát ngoài da. Chất nhầy từ mũi họng bị viêm chảy ra là ổ lây bệnh GP ở quanh mũi và miệng của bé. Các vật nuôi trong nhà như chó, mèo cũng là nguồn lây nhiễm cho trẻ. ở nhà trẻ, trường học là môi trường dễ lây từ trẻ bị bệnh sang trẻ lành.

Triệu chứng và biến chứng

Dấu hiệu đầu tiên của GP là vết đỏ trên da, sau đó từ vết này nổi lên mụn nước và bóng nước như bị phỏng. Bóng nước nhanh chóng bị vỡ và khô lại thành mày dày có màu vàng. Mày GP dễ tróc khi trẻ cào gãi. Chất dịch của bóng nước có chứa nhiều vi khuẩn cho nên chất dịch này sẽ lây lan và tạo thành nốt GP mới ở vùng da lân cận do gãi, do cào cấu hoặc lây qua trẻ khác do dây dính trực tiếp chất dịch này.

GP là bệnh nhiễm trùng nhẹ trên bề mặt da và khi khỏi không để lại sẹo. Tuy nhiên ở những bé bị GP tái đi tái lại nhiều lần và nhất là GP ở vùng da quanh mũi và miệng, một số bé có thể bị biến chứng viêm cầu thận cấp, là bệnh nặng hơn rất nhiều so với bệnh nguyên thủy (GP).

Phòng bệnh và điều trị

- Giữ vệ sinh da cho bé, sử dụng các loại xà bông diệt khuẩn thông dụng để phòng ngừa GP.

- Cắt ngắn móng tay, chân cho bé thường xuyên để loại bỏ ổ chứa vi khuẩn.

- Khi bé bị viêm mũi, họng thì cần đưa bé đi điều trị sớm để ngăn chặn lây nhiễm ra da, nhất là phòng ngừa biến chứng viêm cầu thận cấp.

- Trong các trường mẫu giáo, nhà trẻ, trường tiểu học, khi phát hiện có trẻ bị GP, các thầy cô cần báo cho cha mẹ bé để đưa bé đi khám bệnh, phòng lây bệnh cho các học sinh khác.

- Mặc dù GP là loại nhiễm trùng da nhẹ có thể điều trị dễ dàng bằng thuốc bôi có chứa chất kháng sinh hoặc thuốc uống kết hợp, nhưng các bậc cha mẹ cũng cần đưa trẻ đến khám để được chỉ định thuốc điều trị cho đúng cách, vì da của trẻ con rất dễ hấp thu thuốc qua đường bôi cho nên bôi thuốc quá liều, bôi thuốc sai quy định có thể gây hại cho bé.

BS Mai Anh Khôi


Popular Posts